Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA SẢN PHẨM RỪNG BẦN TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Kinh tế nông nghiệp
Luận án này được thực hiện nhằm đánh giá giá trị kinh tế của sản phẩm rừng bần tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường giá trị kinh tế này. Nghiên cứu có ba mục tiêu chính: (1) Phân tích và đánh giá thực trạng sản phẩm rừng bần tại ĐBSCL; (2) Đánh giá giá trị kinh tế của các sản phẩm rừng bần tại ĐBSCL; và (3) Đề xuất giải pháp và kiến nghị để nâng cao giá trị kinh tế của sản phẩm rừng bần tại ĐBSCL.
Về phạm vi không gian, nghiên cứu thu thập số liệu sơ cấp thông qua phỏng vấn người dân sống ven rừng bần tại 03 huyện thuộc 02 tỉnh ĐBSCL (Duyên Hải - Trà Vinh, Cù Lao Dung và Trần Đề - Sóc Trăng). Số liệu được sử dụng để phân tích giá trị kinh tế qua việc khai thác các sản phẩm từ rừng bần để tạo thu nhập cho hộ dân, giá trị cảnh quan du lịch thông qua chỉ tiêu đánh giá chi phí du lịch, và giá trị phòng hộ chắn sóng, gió, bão của rừng bần. Các thông tin thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2010-2019, với khảo sát thực địa diễn ra từ tháng 06/2018 đến tháng 12/2019. Nghiên cứu tập trung vào đánh giá giá trị trực tiếp và gián tiếp của rừng bần theo 03 nhóm: giá trị tạo thu nhập, giá trị du lịch và giá trị phòng hộ.
Luận án áp dụng phương pháp định giá kinh tế toàn phần (Total Economic Value - TEV), bao gồm Giá trị sử dụng trực tiếp (Direct Use Value - DUV) và Giá trị sử dụng gián tiếp (Indirect Use Value - IUV). Giá trị sử dụng trực tiếp được tính thông qua thu nhập hộ dân từ việc khai thác sản phẩm rừng và giá trị tham quan du lịch; giá trị sử dụng gián tiếp được ước tính dựa trên những thiệt hại hay phí tổn về kinh tế có thể tránh hoặc tiết kiệm được nếu bảo tồn, phát triển rừng bần (chi phí thay thế).
Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng giá trị kinh tế của sản phẩm rừng bần tại ĐBSCL đạt 445,673 tỷ đồng/năm (tương đương 140,6 triệu đồng/ha/năm). Trong đó, giá trị du lịch chiếm tỷ trọng lớn nhất với 327,365 tỷ đồng/năm (73,45%), tiếp đến là giá trị phòng hộ 60,7 tỷ đồng/năm (13,62%), và giá trị tạo thu nhập cho người dân là 57,608 tỷ đồng/năm (12,93%). Nghiên cứu cũng xác định 10 yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ dân sống ven rừng bần, với "Tiếp cận vốn vay từ các định chế chính thức" (X10) có mức độ tác động lớn nhất (44,8%).
Nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng, đã hệ thống hóa và làm rõ 04 chức năng của rừng bần tại ĐBSCL (cung cấp, hỗ trợ, điều tiết, văn hóa). Kết quả cung cấp cơ sở cho công tác quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng bần tại ĐBSCL, đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho các hoạt động đào tạo và nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan.
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên