Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
Đang tải tài liệu...
ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA CON LAI GIỮA VỊT BIỂN 15 - ĐẠI XUYÊN, VỊT TRỜI VÀ VỊT STAR 53
Chăn nuôi
Luận án nghiên cứu đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa vịt Biển 15 - Đại Xuyên, vịt Trời và vịt Star 53 nhằm tìm ra giống vịt thích ứng với biến đổi khí hậu. Bối cảnh nghiên cứu xuất phát từ thực trạng hạn hán và xâm nhập mặn gây khó khăn cho phát triển kinh tế, trong khi các giống vật nuôi thích ứng còn hạn chế. Đề tài tập trung khai thác ưu thế lai từ nguồn gen của ba giống vịt trên để tạo ra các dòng vịt mới có năng suất và chất lượng cao.
Mục tiêu tổng quát là xác định tổ hợp lai có năng suất và chất lượng phù hợp cho chăn nuôi vịt thích ứng với biến đổi khí hậu. Các mục tiêu cụ thể bao gồm xác định đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của tổ hợp lai hai giống (vịt Biển 15 - Đại Xuyên, vịt Trời) và ba giống (vịt Biển 15 - Đại Xuyên, vịt Trời, vịt Star 53), từ đó lựa chọn tổ hợp lai tối ưu cho phát triển thủy cầm.
Công trình này lần đầu tiên sử dụng nguồn gen từ vịt Biển 15 - Đại Xuyên, vịt Trời và vịt Star 53 để tạo ra vịt lai hai giống BT nuôi sinh sản và vịt lai ba giống SBT nuôi lấy thịt, thích ứng hiệu quả với vùng xâm nhập mặn. Về mặt khoa học, luận án khai thác ưu thế lai để tạo ra các con lai phù hợp với môi trường nước mặn, lợ và ngọt, góp phần bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển nông nghiệp sinh thái bền vững. Về mặt thực tiễn, đã tạo ra vịt lai BT có khối lượng nhỏ, năng suất trứng cao, tiêu tốn thức ăn thấp, và vịt lai SBT có năng suất, chất lượng thịt cao, thích ứng với nhiều môi trường nước.
Kết quả nghiên cứu cho thấy vịt lai BT và TB đều vượt trội bố mẹ về khả năng sinh sản, với tỷ lệ nuôi sống cao (96,80-96,93%), tuổi đẻ sớm (20-21 tuần), năng suất trứng cao (266,87-275,22 quả/mái/52 tuần), tiêu tốn thức ăn thấp và chất lượng trứng tốt. Vịt lai ba giống SBT và STB cũng thể hiện tỷ lệ nuôi sống cao (98-99%), khối lượng cơ thể và tốc độ sinh trưởng tốt, tỷ lệ thịt xẻ cao (71,55-71,91%), chất lượng thịt đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng.
Trong điều kiện sản xuất thực tế tại các tỉnh có độ mặn khác nhau, cả vịt BT và SBT đều đạt hiệu quả cao về năng suất và hiệu quả kinh tế. Vịt BT sinh sản mang lại lợi nhuận cao (184.765 - 220.911 đồng/mái), còn vịt SBT thương phẩm cho lợi nhuận tốt (21.147 - 24.639 đồng/con). Đề nghị tiếp tục nghiên cứu chọn lọc để nâng cao năng suất vịt lai BT và phát triển nuôi thương phẩm vịt lai SBT.
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên