ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH CỘNG HƯỞNG TỪ TRÊN BỆNH NHÂN ẤU TRÙNG SÁN LỢN Ở NÃO VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BẰNG ALBENDAZOL VÀ PRAZIQUANTEL
Ký sinh trùng-Côn trùng Y học
Luận án này tập trung nghiên cứu về bệnh ấu trùng sán lợn ở não (ATSL ở não), một bệnh nhiễm ký sinh trùng nghiêm trọng do Taenia solium gây ra, có thể dẫn đến các triệu chứng thần kinh như co giật, động kinh và liệt. Bệnh ATSL ở não đòi hỏi chẩn đoán chính xác và phác đồ điều trị hiệu quả, an toàn, đặc biệt là việc đánh giá kết quả điều trị bằng hình ảnh cộng hưởng từ (MRI).
Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh ATSL ở não tại Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương giai đoạn 2017-2020; mô tả hình ảnh nang ATSL ở não trên phim MRI và mối liên quan với triệu chứng lâm sàng; và đánh giá kết quả điều trị bằng albendazol và praziquantel.
Nghiên cứu đã đóng góp vào việc mô tả chi tiết đặc điểm hình ảnh nang ATSL ở não và đánh giá hiệu quả hai phác đồ điều trị, từ đó làm cơ sở sửa đổi Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh ATSL ở não tại Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu trên 120 bệnh nhân cho thấy các triệu chứng lâm sàng chủ yếu bao gồm đau đầu (88,3%), co giật (60%), máy giật cơ (58,3%) và ngất (24,2%). Các chỉ số cận lâm sàng ghi nhận tỷ lệ thiếu máu thấp (1,7%), tăng GOT (19,2%) và GPT (22,5%), tăng bạch cầu ái toan (15%), và dương tính kháng thể kháng ATSL (18,4%).
Về hình ảnh MRI sọ não, bệnh nhân thường có nhiều nang với kích thước, giai đoạn và vị trí khác nhau. Nang ATSL chủ yếu ở bán cầu đại não (69,2%), vỏ/dưới vỏ (50,8%), tiểu não (9,2%), và khoang dưới nhện (2,5%). Đa số bệnh nhân nhiễm nhiều nang (81,7%) và các nang thường ở giai đoạn hoạt động (95,8%). Phù quanh nang vùng vỏ/dưới vỏ có liên quan rõ rệt với co giật và máy giật cơ (p < 0,001).
Sau 6 tháng điều trị, các triệu chứng lâm sàng như đau đầu, co giật, máy giật cơ cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ bệnh nhân hết triệu chứng lâm sàng là 65% với albendazol và 73,3% với praziquantel. Về hình ảnh MRI, các nang ở giai đoạn 1 và 2 đáp ứng tốt. Tỷ lệ hết nang sau điều trị là 51,7% với albendazol và 66,7% với praziquantel. Tổng thể, kết quả điều trị lâm sàng và hình ảnh MRI của albendazol (38,3% khỏi bệnh) và praziquantel (53,3% khỏi bệnh) là tương đương nhau. Cả hai phác đồ đều cho thấy tác dụng tốt và an toàn, với tác dụng phụ nhẹ và thoáng qua.