CHỌN TẠO GIỐNG/DÒNG LÚA NẾP MỚI THÍCH NGHI VỚI ĐIỀU KIỆN CANH TÁC Ở 02 TỈNH LONG AN VÀ AN GIANG DỰA VÀO PHƯƠNG PHÁP LAI TRUYỀN THỐNG VÀ DẤU PHÂN TỬ ADN
Công nghệ sinh học
Luận án nghiên cứu về việc chọn tạo các giống/dòng lúa nếp mới nhằm khắc phục những hạn chế của các giống lúa nếp truyền thống tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đặc biệt là ở Long An và An Giang. Các giống lúa nếp hiện tại thường có khả năng kháng bệnh kém, dễ đổ ngã, thời gian sinh trưởng dài và cơm nếp không thơm. Nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao giá trị kinh tế cho người nông dân, đề tài đã ứng dụng phương pháp lai tạo truyền thống kết hợp với dấu phân tử ADN để chọn lọc và phát triển các giống/dòng lúa nếp ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện canh tác của hai tỉnh này.
Nghiên cứu đã thu thập và đánh giá 54 giống lúa nếp ban đầu về đặc điểm nông học, đa dạng di truyền, hàm lượng amylose, mùi thơm và khả năng chống chịu sâu bệnh. Các dấu phân tử ADN được sử dụng để kiểm tra kiểu gen thơm (BADH2), gen waxy (WxIn1) và gen kiểm soát chiều dài hạt gạo (GS3), giúp rút ngắn thời gian và tăng cường độ chọn lọc. Từ đó, luận án đã lai tạo 17 tổ hợp lai mới từ 9 giống mẹ có ưu điểm về năng suất và khả năng thích nghi, cùng 8 giống bố có ưu điểm về chất lượng và hương thơm.
Kết quả đã chọn được dòng Nếp Hương Tiên (N14) với nhiều ưu điểm nổi trội như: thời gian sinh trưởng ngắn (93-100 ngày), cứng cây (điểm 1), năng suất cao (6,0-8,0 tấn/ha) và ổn định, hàm lượng amylose thấp (2,0-2,3%), cơm nếp dẻo, dính, có mùi thơm. Đặc biệt, Nếp Hương Tiên kháng đạo ôn lá tốt (cấp 1-3) trong điều kiện kiểm soát và thích nghi tốt với điều kiện canh tác tại Long An và An Giang. Dòng N14 cũng có tính khác biệt, đồng nhất và ổn định, đủ điều kiện để bảo hộ giống. Nghiên cứu này đã góp phần đa dạng hóa nguồn giống lúa nếp tại ĐBSCL và tạo tiền đề cho các nghiên cứu chọn tạo giống lúa nếp tiếp theo.