CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ TRONG NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM
Quản lý kinh tế
Luận án tập trung nghiên cứu chính sách phát triển hợp tác xã (HTX) trong nông nghiệp của Việt Nam, một thể chế kinh tế có lịch sử phát triển lâu đời và được Đảng, Nhà nước đặc biệt coi trọng. Mục tiêu chính của nghiên cứu là đóng góp kết quả vào quá trình xây dựng Nghị quyết mới của Đảng về phát triển kinh tế hợp tác và đề xuất chính sách phát triển HTX nông nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035. Luận án thực hiện hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về HTXNN và CSPT HTXNN giai đoạn 2013-2019, đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng hoạch định và thực thi chính sách, từ đó đưa ra những đóng góp về quan điểm, phương hướng và giải pháp.
Trong giai đoạn 2013-2019, chính sách phát triển HTXNN tại Việt Nam đã được hình thành từ 11 chính sách cơ bản, bao gồm các chính sách về đào tạo, xúc tiến thương mại, ứng dụng khoa học kỹ thuật, tiếp cận vốn, hỗ trợ thành lập mới, đầu tư kết cấu hạ tầng, giao đất, ưu đãi tín dụng, và hỗ trợ chế biến sản phẩm. Những chính sách này đã góp phần gia tăng số lượng HTXNN, ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả và mang lại lợi ích kinh tế cho thành viên và các hộ liên kết. Tuy nhiên, mức độ tác động của các chính sách còn hạn chế và chưa rõ ràng, chưa đạt hiệu quả như mong muốn và chưa thực sự hướng đúng vào các đối tượng HTXNN hoạt động theo nguyên tắc.
Các nguyên nhân của những hạn chế này được chỉ ra từ ba khâu chính. Thứ nhất, từ khâu hoạch định chính sách: phương thức tiếp cận chưa phù hợp, thông tin và số liệu thiếu thống nhất, chưa có phương thức nhận diện HTXNN hoạt động đúng nguyên tắc. Thứ hai, từ khâu tổ chức triển khai: bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế tập thể (KTTT), HTX còn yếu, thiếu và phân tán; nguồn lực thực hiện chính sách hạn chế; nhiều chính sách lồng ghép khiến đối tượng thụ hưởng không rõ ràng. Thứ ba, từ nhóm đối tượng thụ hưởng: khả năng tài chính và năng lực nội tại của thành viên HTX còn yếu, vốn ít, trang thiết bị lạc hậu, quy mô nhỏ, chưa xây dựng được chuỗi liên kết và năng lực quản trị của cán bộ HTX chưa đáp ứng yêu cầu.
Để khắc phục những hạn chế này, luận án đề xuất các giải pháp tập trung vào việc đổi mới quan điểm về HTX, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật (sửa đổi, bổ sung Luật HTX năm 2012), ban hành văn bản hướng dẫn hoạt động kiểm toán, xây dựng tiêu chí đánh giá và cơ sở dữ liệu về HTXNN. Đồng thời, cần tăng cường công tác tuyên truyền, tập huấn, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, rà soát, điều chỉnh phương thức hoạt động và triển khai chính sách hỗ trợ, ưu đãi, bố trí đủ nguồn lực và chú trọng triển khai các chính sách khuyến khích phát triển HTXNN một cách quyết liệt và hiệu quả.