info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh và phẫu thuật điều trị tổn thương da do xạ trị..

Năm2020
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU TỔN THƯƠNG DA DO XẠ TRỊ

Ngành:

Ngoại khoa (Mã số: 9720104)

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tập trung nghiên cứu về tổn thương da mạn tính do xạ trị, một biến chứng thường gặp khi sử dụng bức xạ ion hóa để tiêu diệt tế bào ung thư. Xạ trị, dù là phương pháp chủ yếu trong điều trị khối u ác tính, nhưng cũng gây ra các tác dụng phụ lên mô lành, bao gồm tổn thương niêm mạc, phù bạch huyết và xơ hóa đám rối thần kinh. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng xạ trị cho u mạch máu từ đầu thế kỷ 20 đã ghi nhận các trường hợp ung thư sau xạ trị.

Nghiên cứu được thực hiện trên 30 bệnh nhân, trong đó tổn thương da do xạ trị ung thư chiếm đa số (25 BN) và 5 BN do xạ trị u mạch máu. Vị trí tổn thương hay gặp nhất là vùng ngực (46,7%, chủ yếu là bệnh nhân ung thư vú) và vùng đầu mặt cổ (33,3%). Mức độ tổn thương theo phân loại Saunders 2003 cho thấy 80% bệnh nhân có tổn thương độ II và III. Đặc biệt, 50% ổ loét đã xâm lấn sâu vào mô cơ và xương, với 2 trường hợp loét sâu qua xương sườn tới màng ngoài tim, màng phổi thành. Phân tích vi sinh vật cho thấy 95,8% mẫu cấy mọc vi khuẩn, phổ biến nhất là trực khuẩn mủ xanh và tụ cầu vàng. Đáng chú ý, 12,5% bệnh nhân loét do xạ trị vẫn còn ung thư tại ổ loét.

Về mô bệnh học, đặc trưng của tổn thương tại trung tâm ổ loét là mất liên tục biểu mô, thâm nhiễm tế bào viêm mạn tính, tổ chức hoại tử và không có hình ảnh mô hạt. Tổn thương mạch máu nặng nề tại vùng thâm nhiễm với biểu hiện tắc mạch (73,33%) và nghẽn mạch (70%), trong khi vùng rìa chủ yếu là dày thành mạch máu (96,67%). Kết quả hóa mô miễn dịch cho thấy mức độ biểu hiện dấu ấn kháng nguyên CD31 và CD34 tăng dần từ vùng rìa đến vùng thâm nhiễm và vùng trung tâm, phản ánh tình trạng thiếu máu cục bộ mạn tính.

Trong điều trị, phẫu thuật chuyển vạt là phương pháp chính. Các loại vạt được sử dụng bao gồm vạt da nhánh xuyên (42,3%), vạt có cuống (30,8%) và vạt tại chỗ (19,2%). Tỷ lệ vạt sống hoàn toàn sau ghép đạt 92,4%, và tỷ lệ liền vết thương sau ghép là 91,67%. Biến chứng sau mổ bao gồm nhiễm khuẩn (19,2%), rò vết mổ (7,7%), toác vết mổ (7,7%) và tụ dịch, phù nề (7,7%). Có 1 vạt hoại tử một phần và 1 vạt hoại tử toàn bộ, cần phẫu thuật lại. Luận án kết luận, tổn thương da do xạ trị là một quá trình âm ỉ, mạn tính, kéo dài nhiều năm, đặc trưng bởi thiếu máu cục bộ. Việc lựa chọn vạt da được cấp máu tốt (như vạt có cuống, vạt da nhánh xuyên, vạt vi phẫu) có vai trò quan trọng trong phẫu thuật điều trị loét mạn tính do xạ trị.

Mục lục chi tiết:

  • ĐẶT VẤN ĐỀ

  • 1.2.6. Các tổn thương khác do xạ trị

  • 1.3.4. Các phương pháp tạo hình che phủ tổn khuyết sau cắt bỏ tổn thương

  • 2.2.3. Đánh giá kết quả phẫu thuật chuyển vạt điều trị loét mạn tính do xạ trị

  • 3.1.3. Mức độ tổn thương

  • 3.1.4. Các đặc điểm của ổ loét do xạ trị

  • 3.1.5.2. Kết quả sinh thiết tại trung tâm ổ loét

  • 3.1.5.3 Kết quả sinh thiết tại vùng thâm nhiễm và vùng rìa

  • 3.1.6. Hoá mô miễn dịch

  • 3.2. Kết quả phẫu thuật chuyển vạt điều trị

  • 3.2.3. Tình trạng vạt da, liền vết thương

  • 3.2.4. Biến chứng

  • 3.2.6. Kết quả sau mổ - Loét tái

  • 4.1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tổn thương

  • KẾT LUẬN

Tài liệu liên quan