ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TẠO HÌNH BÀNG QUANG BẰNG PHƯƠNG PHÁP HAUTMANN Ở PHỤ NỮ SAU CẮT BÀNG QUANG TẬN GỐC DO UNG THƯ
Ngoại thận và tiết niệu
Luận án "Đánh giá kết quả tạo hình bàng quang bằng phương pháp Hautmann ở phụ nữ sau cắt bàng quang tận gốc do ung thư" tập trung vào một thách thức quan trọng trong ung thư niệu khoa. Cắt bàng quang tận căn là phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho ung thư bàng quang xâm lấn cơ, và phẫu thuật tạo hình bàng quang trực vị được ưu tiên để khôi phục khả năng tiểu tiện tự nhiên và nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân. Mặc dù đã có nhiều thành công ở nam giới, việc áp dụng và kết quả trên bệnh nhân nữ còn hạn chế và chưa được phân tích sâu.
Nghiên cứu tiền cứu lâm sàng này được thực hiện tại Bệnh viện Bình Dân, Thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 7 năm 2019, trên 35 bệnh nhân nữ được phẫu thuật tạo hình bàng quang tân tạo bằng phương pháp Hautmann sau cắt bàng quang tận gốc do ung thư. Mục tiêu chính là đánh giá kết quả phẫu thuật, bao gồm tỷ lệ tai biến, biến chứng, chức năng chứa đựng và tống xuất của bàng quang tân tạo, khả năng kiểm soát nước tiểu, cũng như các kết quả về ung thư như tỷ lệ tái phát và sống còn. Các tiêu chuẩn chọn bệnh cụ thể được áp dụng liên quan đến giai đoạn bướu, vị trí bướu, tình trạng tiểu tiện và sức khỏe tổng thể của bệnh nhân.
Kết quả cho thấy thời gian mổ trung bình là 368,43 phút. Tỷ lệ biến chứng sớm là 17,2%, chủ yếu là nhiễm khuẩn niệu (8,6%) và rò nước tiểu (2,9%), không ghi nhận tử vong trong phẫu thuật hoặc cần mổ lại lần hai. Biến chứng xa thường gặp là hẹp miệng nối niệu quản – bàng quang tân tạo (8,5%). Tỷ lệ tử vong chung là 25,7%, với 20% liên quan đến tái phát ung thư. Các yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến thời gian sống còn bao gồm ung thư tái phát, hạch N1 trở lên, u từ T3 trở lên và di căn hạch chậu.
Về chức năng bàng quang tân tạo tại thời điểm 6 tháng sau mổ, dung tích bàng quang trung bình đạt 366,97 ± 49,97 ml, thể tích nước tiểu tồn lưu trung bình là 86,73 ± 33,80 ml. Tỷ lệ kiểm soát tiểu ban ngày là 85,7% và ban đêm là 68,6%. Khoảng 8,5% bệnh nhân tiểu không hiệu quả phải tự đặt thông tiểu cách quãng. Đa phần bệnh nhân đi tiểu đêm một lần (45,7%). Kết quả tạo hình bàng quang tân tạo được đánh giá tốt ở 42,8%, khá ở 51,4% và trung bình ở 5,8% trường hợp. Nghiên cứu khuyến nghị tiếp tục mở rộng áp dụng phương pháp này và thực hiện các nghiên cứu dài hạn hơn để xác định hiệu quả bền vững và đánh giá toàn diện chất lượng cuộc sống.
1. Đánh giá kết qủa của phẫu thuật: tỷ lệ các tai biến, biến chứng của phẫu thuật
2. Đánh giá chức năng bàng quang tân tạo sau phẫu thuật:
Chức năng chứa đựng bàng quang tân tạo: dung tích bàng quang tân tạo, số lần đi tiểu ban ngày và ban đêm, tỷ lệ tiểu kiểm soát ban ngày/ban đêm.
Chức năng tống xuất bàng quang tân tạo: tỷ lệ tiểu khó, tiểu không hết.
Về mặt ung thư bàng quang: Xác định tỷ lệ ung thư tái phát và tỷ lệ sống còn.