info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu điều trị phẫu thuật hẹp khí phế quản do lao

Năm2021
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT HẸP KHÍ PHẾ QUẢN DO LAO

Ngành:

Ngoại lồng ngực

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án "Nghiên cứu điều trị phẫu thuật hẹp khí phế quản do lao" được thực hiện tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, chuyên ngành Ngoại lồng ngực. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu nhận xét đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính (CLVT) lồng ngực, nội soi phế quản (NSPQ) và mô bệnh học, đồng thời đánh giá kết quả sớm và trung hạn của điều trị phẫu thuật tạo hình hẹp khí phế quản (KPQ) do lao.

Nghiên cứu tiến cứu mô tả hàng loạt trường hợp được thực hiện từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 12 năm 2019, với 48 bệnh nhân hẹp KPQ do lao đủ tiêu chuẩn tại Khoa Ngoại lồng ngực, Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. Trong số đó, có 3 bệnh nhân hẹp khí quản đoạn 1/3 giữa, 9 bệnh nhân hẹp phế quản gốc phải và 36 bệnh nhân hẹp phế quản gốc trái. Bệnh lý này thường gặp ở nữ giới và trong độ tuổi lao động (20-39 tuổi), với triệu chứng phổ biến là ho và khó thở.

Về đặc điểm bệnh lý, kiểu hẹp xơ sẹo chiếm đa số, có thể kết hợp mềm sụn hoặc vặn xoắn. Vị trí hẹp khí quản thường ở 1/3 giữa với mức độ hẹp nặng (5-6mm), trong khi hẹp phế quản gốc chủ yếu ở phế quản gốc trái (80%) và thường là hẹp toàn bộ (60%). Chiều dài đoạn hẹp trung bình là 26,2mm và đường kính lòng đoạn hẹp trung bình là 2,0mm. Mức độ hẹp rất nặng (độ III và IV) là chủ yếu. Xẹp phổi và tổn thương nhu mô phổi kèm theo thường gặp. Kết quả mô bệnh học sau mổ xác định 100% trường hợp là lao KPQ.

Kết quả sớm sau phẫu thuật cho thấy không có tử vong và không cần thở máy sau mổ tại hồi sức. Phẫu thuật hẹp khí quản có kết quả sớm tốt, không biến chứng. Đối với hẹp phế quản gốc, ghi nhận 28,9% biến chứng, trong đó rò khí kéo dài là phổ biến nhất. Hẹp miệng nối sớm (28,9%) thường do phù nề sung huyết và không gây tắc nghẽn, với đường kính trung bình 6,6mm trước xuất viện. Kết quả trung hạn cho thấy phẫu thuật hẹp khí quản không có tái hẹp. Phẫu thuật hẹp phế quản gốc có 11,1% hẹp miệng nối cần can thiệp trong 12 tháng đầu và 4,4% hẹp nhẹ không cần can thiệp sau 12 tháng. Tỷ lệ thành công của phẫu thuật tạo hình phế quản gốc đạt 95,5%. Tình trạng lâm sàng và chức năng hô hấp của bệnh nhân cải thiện rõ rệt và có ý nghĩa thống kê sau phẫu thuật, với đường kính miệng nối trung bình sau 12 tháng gần như bình thường và tăng đáng kể so với trước mổ.

Luận án khẳng định phẫu thuật tạo hình là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị hẹp KPQ do lao, đồng thời đề xuất các kiến nghị về chẩn đoán và quản lý bệnh, bao gồm việc chụp CLVT hoặc NSPQ cho bệnh nhân có tiền căn lao phổi và triệu chứng hô hấp, cũng như khuyến nghị thực hiện phẫu thuật tại các trung tâm lớn và cần có các nghiên cứu đa trung tâm để xây dựng quy trình điều trị chuẩn.

Tài liệu liên quan