info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình van động mạch chủ theo phương pháp Ozaki qua đường mở xương ức toàn bộ và ít xâm lấn

Năm2022
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT TẠO HÌNH VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ THEO PHƯƠNG PHÁP OZAKI QUA ĐƯỜNG MỞ XƯƠNG ỨC TOÀN BỘ VÀ ÍT XÂM LẤN

Ngành:

Ngoại khoa

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án này tập trung vào đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình van động mạch chủ theo phương pháp Ozaki, thực hiện qua đường mở xương ức toàn bộ và ít xâm lấn. Bối cảnh nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu tìm kiếm giải pháp tối ưu cho bệnh lý van động mạch chủ, vượt qua hạn chế của phương pháp thay van kinh điển (như yêu cầu kháng đông và tuổi thọ van nhân tạo). Phương pháp Ozaki, được Shigeyuki Ozaki giới thiệu năm 2007, sử dụng màng ngoài tim tự thân để tạo hình ba lá van mới, với điểm khác biệt là đo đạc và tạo hình độc lập từng lá van, nhằm bảo tồn giải phẫu và sinh lý tự nhiên của gốc động mạch chủ. Phương pháp này đã được triển khai tại nhiều trung tâm trên thế giới và tại Việt Nam, bao gồm Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.

Mục tiêu nghiên cứu bao gồm mô tả đặc điểm giải phẫu và chỉ định phẫu thuật ở nhóm bệnh nhân được tạo hình van động mạch chủ bằng phương pháp Ozaki, đánh giá kết quả sớm và trung hạn, và đánh giá khả năng áp dụng đường mở ngực ít xâm lấn. Nghiên cứu được thực hiện trên 50 bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. HCM từ tháng 7/2017 đến tháng 12/2020, theo thiết kế mô tả loạt ca có phân tích, hồi cứu và tiến cứu.

Kết quả nghiên cứu cho thấy độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 48,9 ± 14,6, với tỷ lệ nam/nữ là 4/1. Các bệnh lý van động mạch chủ chủ yếu là hở van (68,0%), hẹp van (16,0%), và hẹp hở van (16,0%), trong đó bệnh van hậu thấp chiếm ưu thế (42,0%). Về kết quả sớm, có 6 trường hợp (12,0%) phải chuyển sang thay van động mạch chủ. Không ghi nhận trường hợp tử vong nội viện. Biến chứng thường gặp nhất là rung nhĩ thoáng qua. Về kết quả trung hạn, xác suất sống còn tích lũy sau 1 năm là 96,8%, và xác suất không thay van tích lũy sau 1 năm là 97,3%. Tỷ lệ tử vong trung hạn là 2,0%, và tỷ lệ phẫu thuật lại là 6,0%, chủ yếu do viêm nội tâm mạc nhiễm trùng. Phân suất tống máu thất trái có sự cải thiện.

Nghiên cứu cũng khẳng định khả năng áp dụng đường mở ngực ít xâm lấn là khả thi và an toàn, không có trường hợp nào phải chuyển sang mở xương ức toàn bộ. Tỷ lệ tử vong, biến chứng sớm và trung hạn không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm mở ngực toàn bộ xương ức và nhóm ít xâm lấn. Đóng góp của nghiên cứu là bổ sung dữ liệu về phẫu thuật Ozaki tại Việt Nam, đồng thời xác nhận tính khả thi và an toàn của phương pháp này, kể cả khi áp dụng đường tiếp cận ít xâm lấn. Luận án kiến nghị phẫu thuật Ozaki có thể chỉ định cho đa dạng bệnh lý, lứa tuổi, đặc biệt cho đối tượng không muốn dùng kháng đông hoặc có vòng van nhỏ, nhưng cần lưu ý bắt đầu với bệnh nhân nguy cơ thấp và tiếp cận ít xâm lấn khi trung tâm đã có kinh nghiệm.

Mục lục chi tiết:

  • Phần mở đầu: 02 trang
  • Phần tổng quan: 34 trang
  • Phần đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 15 trang
  • Phần kết quả: 33 trang
  • Phần bàn luận: 35 trang
  • Phần kết luận và kiến nghị: 04 trang
  • Tài liệu tham khảo: 136 tài liệu, gồm 12 tài liệu tiếng Việt và 124 tài liệu tiếng Anh.
  • 07 phụ lục.

Tài liệu liên quan