info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Giá trị tiên lượng chức năng gan của độ thanh lọc indocyanine green trong phẫu thuật cắt gan

Năm2022
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG CHỨC NĂNG GAN CỦA ĐỘ THANH LỌC INDOCYANINE GREEN TRONG PHẪU THUẬT CẮT GAN

Ngành:

Y học

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án "Giá trị tiên lượng chức năng gan của độ thanh lọc indocyanine green trong phẫu thuật cắt gan" được thực hiện tại Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 3 năm 2021, với sự tham gia của 340 bệnh nhân và người hiến gan được chỉ định cắt gan. Nghiên cứu này nhằm giải quyết vấn đề suy gan sau phẫu thuật cắt gan, một biến chứng nặng với tỉ lệ tử vong cao (80-100%), đặc biệt trong bối cảnh ung thư tế bào gan trên nền gan mạn tính hoặc gan xơ phổ biến tại Việt Nam. Việc đánh giá chức năng gan trước phẫu thuật là hết sức quan trọng.

Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định mối tương quan giữa độ thanh lọc Indocyanine green (ICG) và mức độ xơ gan trên giải phẫu bệnh theo thang điểm Ishak, so sánh giá trị của độ thanh lọc ICG với thang điểm Child-Pugh trong đánh giá chức năng gan trước phẫu thuật, và xác định mối liên quan giữa độ thanh lọc ICG, thể tích gan bảo tồn với biến chứng suy chức năng gan sau phẫu thuật cắt gan lớn. Đây là lần đầu tiên xét nghiệm độ thanh lọc ICG được ứng dụng để đánh giá chức năng gan trước phẫu thuật cắt gan tại Việt Nam sau khi Bộ Y tế cho phép sử dụng từ tháng 5 năm 2016.

Kết quả nghiên cứu cho thấy độ thanh lọc ICG (thể hiện qua ICG-R15) có tương quan thuận yếu với mức độ xơ gan trên giải phẫu bệnh theo thang điểm Ishak (hệ số Spearman 0,232, p < 0,001). Đặc biệt, nghiên cứu chứng minh độ thanh lọc ICG tốt hơn thang điểm Child-Pugh trong việc đánh giá mức độ xơ gan trên giải phẫu bệnh và tiên lượng suy gan sau phẫu thuật cắt gan, vì thang điểm Child-Pugh không cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ xơ gan theo Ishak hay biến chứng suy gan.

Tỉ lệ suy gan sau phẫu thuật cắt gan trong nghiên cứu là 12,4%, trong đó cắt gan lớn là 16,8%. ICG-R15 ở nhóm không suy gan thấp hơn nhóm suy gan 0,73 lần, và thể tích gan bảo tồn (RLV/SLV) ở nhóm không suy gan cao hơn nhóm suy gan 1,13 lần. Nghiên cứu đã xây dựng được mô hình tiên lượng mức độ xơ gan (hiệu quả 68%) và mô hình tiên lượng nguy cơ suy gan sau phẫu thuật cắt gan lớn (hiệu quả 77%) dựa trên các yếu tố như tuổi, giới tính, ICG-R15 và RLV/SLV.

Luận án kiến nghị áp dụng rộng rãi xét nghiệm độ thanh lọc ICG do tính an toàn và khả năng tiên lượng hiệu quả. Việc kết hợp độ thanh lọc ICG với thể tích gan bảo tồn giúp phẫu thuật viên đưa ra quyết định cắt gan an toàn. Các mô hình tiên lượng có thể được phát triển thành phần mềm hỗ trợ thực hành lâm sàng.

Tài liệu liên quan