NGHIÊN CỨU HÌNH ẢNH NỘI SOI, MÔ BỆNH HỌC VÀ ĐỘT BIẾN GEN KRAS, BRAF TRÊN BỆNH NHÂN POLYP TUYẾN VÀ UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG
Nội tiêu hóa
Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là bệnh lý ác tính phổ biến, có xu hướng gia tăng và là nguyên nhân gây tử vong đáng kể. Polyp đại trực tràng được xem là yếu tố nguy cơ báo trước, với sự phát triển của UTĐTT liên quan đến nhiều đột biến gen, đặc biệt là KRAS và BRAF, vốn điều hòa các tín hiệu tế bào quan trọng. Trong bối cảnh tại Việt Nam, các nghiên cứu về đột biến gen KRAS và BRAF chủ yếu tập trung vào UTĐTT mà chưa đi sâu vào nhóm bệnh nhân polyp đại trực tràng, luận án này được thực hiện nhằm mục tiêu kép: nhận xét đặc điểm hình ảnh nội soi, mô bệnh học của polyp có loạn sản, polyp ung thư và UTĐTT; đồng thời so sánh tỷ lệ và phân tích mối liên quan giữa đột biến gen KRAS, BRAF với các đặc điểm này.
Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 335 bệnh nhân tại Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược lâm sàng 108, bao gồm 215 bệnh nhân polyp đại trực tràng và 120 bệnh nhân UTĐTT. Các phương pháp thu thập dữ liệu bao gồm nội soi đại trực tràng với các phân loại Paris, Kudo, NICE, đánh giá mô bệnh học theo WHO 2019 và xét nghiệm đột biến gen KRAS, BRAF bằng phương pháp realtime PCR.
Kết quả cho thấy, polyp đại trực tràng có kích thước trung bình 21,2 ± 9,1 mm, trong đó polyp tuyến ống là loại phổ biến nhất (42,85%). Polyp tuyến nhung mao có kích thước trung bình lớn nhất (28,7 ± 10,4 mm) và thường có loạn sản độ cao (53,1%) cũng như ung thư xâm lấn (12,5%). Các phân loại nội soi Kudo type IV-V và NICE type III cho thấy tỷ lệ polyp ung thư hóa cao hơn đáng kể. Đối với ung thư đại trực tràng, vị trí ở đại tràng trái (39,2%) và phải (37,5%) là phổ biến, với thể loét thâm nhiễm chiếm 35,8%. Ung thư biểu mô tuyến biệt hóa vừa là loại hình chủ yếu (86,7% là UTBM tuyến NOS, 69,2% biệt hóa vừa).
Về đột biến gen, tỷ lệ đột biến KRAS ở polyp đại trực tràng là 36,3% và BRAF là 8,8%. Đột biến KRAS thường gặp ở bệnh nhân trên 60 tuổi, polyp kích thước lớn, polyp tuyến nhú và polyp loạn sản độ cao. Đột biến BRAF có mối liên quan với polyp răng cưa. Trong khi đó, tỷ lệ đột biến KRAS ở UTĐTT là 38,3% và BRAF là 15,8%, thường gặp ở nam giới và bệnh nhân trên 60 tuổi. Tuy nhiên, nghiên cứu không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa đột biến KRAS, BRAF với các đặc điểm lâm sàng, nội soi, giai đoạn bệnh, mức độ xâm nhập mạch máu, thần kinh và di căn hạch ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng.
Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam đánh giá đồng thời hình ảnh nội soi, mô bệnh học và đột biến gen KRAS, BRAF trên cả hai nhóm polyp và ung thư đại trực tràng, góp phần vào việc hiểu rõ hơn về sự xuất hiện sớm của các đột biến này trong quá trình phát triển bệnh.