VAI TRÒ SIÊU ÂM ĐÁNH DẤU MÔ CƠ TIM TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH CƠ TIM DO HÓA TRỊ UNG THƯ VÚ Ở BỆNH NHÂN CÓ YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH
Nội khoa
Bệnh tim mạch và ung thư là hai nguyên nhân gây tử vong hàng đầu toàn cầu, trong đó bệnh cơ tim do hóa trị (CIC) là biểu hiện lâm sàng thường gặp ở bệnh nhân ung thư vú được điều trị bằng anthracycline và ức chế HER-2 (trastuzumab), với tỷ lệ tử vong tim mạch có thể lên đến 60% trong 2 năm. Các yếu tố nguy cơ tim mạch nền tảng làm tăng thêm nguy cơ tổn thương cơ tim. Hình ảnh học tim mạch, đặc biệt là siêu âm đánh dấu mô cơ tim để đo sức căng theo chiều dọc toàn bộ thất trái (LV-GLS), đóng vai trò trung tâm trong phân tầng nguy cơ và phát hiện sớm bệnh cơ tim do hóa trị, được khuyến cáo sử dụng thường quy. Tuy nhiên, tại Việt Nam và trên thế giới, vẫn còn thiếu dữ liệu tiến cứu về tần suất, mức độ nặng, thời điểm xuất hiện của bệnh cơ tim do hóa trị, cũng như giá trị dự báo của LV-GLS ở các phân tầng nguy cơ HFA-ICOS khác nhau, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân tích lũy nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá vai trò của siêu âm đánh dấu mô cơ tim trong chẩn đoán bệnh cơ tim do hóa trị ung thư vú ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ tim mạch. Các mục tiêu cụ thể bao gồm mô tả động học giá trị phân suất tống máu thất trái (LVEF) và LV-GLS; xác định tần suất, mức độ nặng và thời điểm xuất hiện bệnh cơ tim do hóa trị anthracycline hoặc trastuzumab; và xác định giá trị dự báo của LV-GLS đối với bệnh cơ tim do hóa trị mức độ trung bình không triệu chứng. Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu này theo dõi 443 bệnh nhân ung thư vú mới chẩn đoán có yếu tố nguy cơ tim mạch (333 bệnh nhân hóa trị anthracycline và 110 bệnh nhân hóa trị trastuzumab).
Kết quả cho thấy giảm LV-GLS xuất hiện có ý nghĩa trước khi LVEF giảm ở cả hai nhóm bệnh nhân, đặc biệt ở nhóm có bệnh cơ tim mức độ trung bình. Tần suất bệnh cơ tim do anthracycline là 12,6% (trong đó 7,2% ở mức độ trung bình), với 80,9% trường hợp xuất hiện sau khi ngưng hóa trị. Tần suất bệnh cơ tim do trastuzumab là 11,8% (trong đó 6,4% ở mức độ trung bình), với tất cả các trường hợp được chẩn đoán trong quá trình hóa trị. Giảm tương đối LV-GLS >15% là công cụ có độ chính xác tốt (với AUC từ 0,93 đến 0,97) trong dự báo bệnh cơ tim do hóa trị mức độ trung bình không triệu chứng, vượt trội so với thang điểm HFA-ICOS đơn độc.
Từ đó, nghiên cứu kiến nghị siêu âm tim theo dõi LV-GLS nên được thực hiện thường xuyên hơn ở bệnh nhân hóa trị anthracycline có nguy cơ HFA-ICOS trung bình, và cá thể hóa tần suất theo dõi LV-GLS (có thể giãn cách hơn) ở bệnh nhân hóa trị trastuzumab thuộc phân tầng nguy cơ HFA-ICOS thấp.