NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, TÁC NHÂN GÂY BỆNH VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM DA DO Demodex spp. TẠI VIỆN SỐT RÉT - KÝ SINH TRÙNG - CÔN TRÙNG QUY NHƠN (2019-2021)
Bệnh Truyền nhiễm và các bệnh nhiệt đới
Luận án tiến sĩ y học này trình bày kết quả nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tác nhân gây bệnh và hiệu quả điều trị viêm da do Demodex spp. tại Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn trong giai đoạn 2019-2021. Nghiên cứu được thực hiện với ba mục tiêu chính: mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố liên quan đến nhiễm Demodex spp.; xác định thành phần loài Demodex spp. bằng phương pháp hình thái học và sinh học phân tử; và đánh giá hiệu quả phác đồ điều trị kết hợp metronidazole-ivermectin đường uống.
Trong tổng số 363 bệnh nhân viêm da nghi ngờ, 135 trường hợp (37,2%) được xác định nhiễm Demodex spp. Các triệu chứng cơ năng phổ biến nhất bao gồm ngứa, mày đay (87,1%), cảm giác kiến bò (83,9%) và châm chích (78,5%). Các tổn thương da cơ bản thường gặp là sẩn đỏ, sẩn cục (77,4%) và ban đỏ, dát đỏ (74,2%), với vị trí tổn thương chủ yếu ở vùng đầu, mặt, cằm, cổ, tai (90,3%). Mật độ Demodex spp. từ 5 đến dưới 10 con/vi trường chiếm tỷ lệ cao nhất (80,7%).
Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố liên quan đáng kể đến nhiễm Demodex spp., bao gồm nhóm tuổi (nguy cơ cao nhất ở nhóm 45-≤55 tuổi), số nhân khẩu sống chung trong gia đình (5-7 người và 8-10 người có nguy cơ cao hơn so với 1-4 người), một số nghề nghiệp nhất định (như học sinh, sinh viên, kinh doanh, nội trợ, công chức) và loại da (da bình thường có nguy cơ cao hơn da dầu). Thói quen rửa mặt ít hơn 3 lần/ngày cũng được ghi nhận làm tăng nguy cơ nhiễm.
Về định loài, kết quả định danh bằng hình thái học cho thấy sự hiện diện của D. folliculorum (63,7%) và D. brevis (27,4%). Các mẫu nghi ngờ được phân tích bằng sinh học phân tử (PCR gen 16S) đã khẳng định D. folliculorum.
Phác đồ điều trị kết hợp metronidazole-ivermectin đường uống đã chứng minh hiệu quả rõ rệt. Sau 2 tháng điều trị, tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng ngứa, mày đay giảm từ 95% xuống 9,9%, và triệu chứng ban đỏ, dát đỏ giảm từ 81,3% xuống 16,9%. Mật độ Demodex spp. trung bình giảm đáng kể từ 8,8 ± 4,5 con/vi trường xuống còn 0,6 ± 0,2 con/vi trường. Tỷ lệ đáp ứng tốt sau 2 tháng điều trị đạt 88,7%, với các tác dụng không mong muốn ghi nhận ở mức thấp và nhẹ.