NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ VẬT LIỆU HỮU CƠ VÀ CHẾ PHẨM VI SINH TRONG SẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN
Khoa học cây trồng (Mã số: 62 62 01 10)
Luận án này tập trung nghiên cứu việc sử dụng các vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh nhằm xây dựng quy trình sản xuất chè an toàn, giải quyết những thách thức do lạm dụng phân hóa học trong canh tác chè truyền thống. Tình trạng này đã dẫn đến suy thoái cây chè, giảm năng suất, chất lượng, tăng dư lượng nitrat và làm suy kiệt đất đai, tăng độ bạc màu, xói mòn, nghèo dinh dưỡng.
Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học quan trọng, cung cấp các dẫn liệu về việc ứng dụng vật liệu tủ hữu cơ và chế phẩm vi sinh vật để sản xuất chè an toàn. Về mặt thực tiễn, đề tài đã xác định được các vật liệu tủ hữu cơ có khả năng làm tăng năng suất, chất lượng chè và độ phì nhiêu đất, đặc biệt là cành lá chè đốn hàng năm như một nguồn vật liệu hữu cơ tại chỗ quan trọng. Nghiên cứu cũng thành công trong việc tuyển chọn và đánh giá các chủng vi sinh vật phân giải xelluloza, chế phẩm vi sinh và phân hữu cơ sinh học có khả năng cải thiện năng suất, chất lượng và độ phì đất trồng chè, góp phần phát triển bền vững các vùng chè an toàn theo tiêu chuẩn VIETGAP, đồng thời giảm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Những đóng góp nổi bật của luận án bao gồm việc xác định cành lá chè đốn hàng năm (với lượng 30 tấn/ha/năm) là nguồn hữu cơ giá trị, đặc biệt khi kết hợp với vi sinh vật phân giải xelluloza. Đã chọn được 7 chủng vi sinh vật phân giải xenluloza mạnh (XK3, XK4, XK5, XK8, XK10, XK11, VK15), trong đó hai chủng XK4 và XK5 có hoạt tính mạnh nhất được phân lập từ đất vùi cành lá chè. Các chủng này đã được khẳng định khả năng làm tăng năng suất và độ phì của đất trồng chè. Việc sử dụng chế phẩm vi sinh vật phân giải nhanh xelluloza từ các chủng tuyển chọn đã giúp tăng năng suất chè lên 10,4% sau 3 năm.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các vật liệu hữu cơ như rơm rạ, guột, cỏ dại tổng hợp, cành lá chè đốn khi che tủ đã làm tăng năng suất chè (từ 12,47 tạ/ha đến 13,10 tạ/ha), cải thiện phẩm cấp chè A+B (từ 7,27% đến 10,97%), tăng độ xốp đất (từ 5,63% đến 8,54%) và hàm lượng chất hữu cơ (từ 1,11% đến 1,44%). Trong đó, cành lá chè đốn với lượng 30 tấn/ha cho hiệu quả tốt nhất. Việc bón bổ sung các loại phân hữu cơ sinh học, đặc biệt là phân hữu cơ sinh học Sông Gianh, cũng làm tăng năng suất chè đáng kể (từ 2,7% đến 16,6%) và cải thiện các tính chất hóa lý của đất. Luận án đã xây dựng được mô hình sản xuất chè an toàn tại Phú Thọ, cho năng suất tăng 9,4% so với mô hình đối chứng, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn 11.288.550 đồng so với sản xuất đại trà. Đây là tài liệu tham khảo giá trị cho cán bộ khoa học, người sản xuất và đào tạo trong lĩnh vực chè.