Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
“Nghiên cứu cơ sở khoa học để phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ đầu nguồn lưu vực sông Pô Kô, tỉnh Kon Tum”.
Lâm sinh; Mã số: 9 62 02 05.
Luận án tiến sĩ với đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học để phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ đầu nguồn lưu vực sông Pô Kô, tỉnh Kon Tum” cung cấp một nền tảng khoa học vững chắc cho việc phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ đầu nguồn (RPHĐN) tại lưu vực sông Pô Kô, tỉnh Kon Tum. Nghiên cứu đã phân tích toàn diện hiện trạng, tình hình quản lý và đặc điểm lâm học của các khu rừng này, đồng thời đưa ra các giải pháp cụ thể.
Về hiện trạng, lưu vực sông Pô Kô có tổng diện tích 316.676,2 ha, trong đó diện tích có rừng là 164.685,4 ha (chiếm 52%). RPHĐN chiếm 64.052,4 ha, tương đương 38,9% tổng diện tích có rừng của khu vực. Sự phân bố rừng và đất lâm nghiệp không đồng đều, tập trung chủ yếu tại các huyện Đắk Glei, Tu Mơ Rông, Đắk Hà, Đắk Tô và Ngọc Hồi. Tổng trữ lượng gỗ của các trạng thái rừng trong lưu vực đạt khoảng 20,21 triệu m3, với RPHĐN đóng góp khoảng 9,02 triệu m3 (44,6%). Rừng trồng thuộc RPH có 158.161 m3 gỗ và khoảng 5,76 triệu cây tre nứa.
Tình hình quản lý RPHĐN hiện được giao cho 8 nhóm đối tượng sử dụng. Trong đó, 7 Ban quản lý RPH chịu trách nhiệm quản lý diện tích lớn nhất (32,5%), tiếp theo là các Công ty Lâm nghiệp (30,8%), UBND các xã (14,9%) và hộ gia đình, cá nhân (11,9%).
Các đặc trưng lâm học cơ bản cho thấy trữ lượng gỗ bình quân của rừng lá rộng thường xanh dao động từ 37,66 – 317,13 m3/ha, rừng lá kim từ 40,43 – 279,1 m3/ha và rừng trồng đạt 150,1 m3/ha. Tổ thành rừng phong phú với 19 – 51 loài, trong đó có từ 3 – 10 loài chiếm ưu thế sinh thái như Trâm vỏ đỏ, Trám trắng, Dẻ trắng. Cấu trúc N/H của rừng lá rộng thường xanh có dạng phân bố lệch trái, mật độ cây tập trung nhiều nhất ở các cỡ chiều cao trung bình.
Nghiên cứu cũng làm rõ mối liên hệ giữa cấu trúc rừng và khả năng phòng hộ. Chỉ số cấu trúc C đạt từ 8,3 đến 15,9, cho thấy khả năng phòng hộ từ trung bình trở lên. Luận án xác định các ngưỡng để đánh giá mức độ suy thoái của RPHĐN dựa trên chỉ số Cs, với Cs > 50 là rừng đủ tiêu chuẩn phòng hộ. Hiện trạng suy thoái của RPHĐN là: 12,3% không suy thoái, 31,5% suy thoái nhẹ, 38,5% suy thoái trung bình và 17,7% suy thoái nghiêm trọng.
Để nâng cao năng lực phòng hộ của rừng, luận án đề xuất các giải pháp phục hồi và quản lý RPHĐN tại lưu vực sông Pô Kô. Các giải pháp này tập trung vào việc cải thiện chỉ số cấu trúc C của thảm rừng thông qua trồng mới trên đất chưa có rừng, xúc tiến tái sinh và nuôi dưỡng rừng, trồng làm giàu rừng, cùng các biện pháp cải thiện cấu trúc rừng khác.
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên