NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP CÓ HẸP ĐỘNG MẠCH THẬN BẰNG PHƯƠNG PHÁP CAN THIỆP QUA DA
NỘI TIM MẠCH (Mã số: 62.72.01.41)
Luận án "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân tăng huyết áp có hẹp động mạch thận bằng phương pháp can thiệp qua da" do Lê Văn Cường thực hiện, thuộc chuyên ngành Nội Tim mạch, bảo vệ tại Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108 vào năm 2017.
Hẹp động mạch thận (ĐMT) được định nghĩa khi tỷ lệ hẹp đường kính ≥ 50%, có ý nghĩa khi ≥ 70%. Tăng huyết áp (THA) do hẹp ĐMT là một nguyên nhân quan trọng gây tăng tỷ lệ tử vong, chiếm 2% ở nhóm nguy cơ tim mạch thấp và tới 40% ở nhóm nguy cơ cao. Khoảng 90% trường hợp hẹp ĐMT có nguyên nhân xơ vữa, dẫn đến khó kiểm soát huyết áp, suy thận tiến triển hoặc các bất thường liên quan đến tim. Các phương pháp điều trị bao gồm nội khoa, ngoại khoa và can thiệp nội mạch, trong đó đặt stent là lựa chọn hợp lý cho hẹp ĐMT do xơ vữa có triệu chứng. Tại Việt Nam, phương pháp can thiệp ĐMT đã được triển khai từ năm 2006, tuy nhiên vẫn còn nhiều tranh cãi về hiệu quả kiểm soát huyết áp và các biến chứng.
Nghiên cứu này được tiến hành với hai mục tiêu chính: một là khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đặc điểm tổn thương động mạch thận ở bệnh nhân THA có hẹp ĐMT được chỉ định can thiệp qua da; hai là đánh giá kết quả can thiệp động mạch thận qua da ở bệnh nhân THA có hẹp ĐMT trong 6 tháng.
Luận án đã đóng góp nhiều thông tin quan trọng, khẳng định can thiệp ĐMT qua da ở bệnh nhân hẹp ĐMT có tỷ lệ thành công cao (100% về giải phẫu và thủ thuật), an toàn và khá hiệu quả. Chỉ số huyết áp và số thuốc hạ huyết áp giảm mạnh ở thời điểm 3 và 6 tháng sau can thiệp, với tỷ lệ cải thiện huyết áp sau 6 tháng đạt 75%. Đặc biệt, cải thiện huyết áp tốt hơn ở bệnh nhân có huyết áp tâm thu ≥ 160 mmHg, hẹp ĐMT một bên và mức lọc cầu thận ≥ 60 ml/phút/1,73m2. Nồng độ creatinin máu trung bình sau can thiệp thay đổi không đáng kể, nhưng giảm mạnh hơn ở bệnh nhân có NT – ProBNP máu tăng trước can thiệp. Tỷ lệ tái hẹp stent động mạch thận sau 6 tháng thấp (8,3%) và tỷ lệ tử vong sau 6 tháng can thiệp cũng thấp (4,8%).
Kết luận của luận án nhấn mạnh rằng can thiệp động mạch thận qua da là một biện pháp điều trị an toàn và hiệu quả, đặc biệt trong việc kiểm soát huyết áp. Tuy nhiên, cần cân nhắc kỹ lưỡng chỉ định can thiệp ở những bệnh nhân tuổi cao và có nhiều yếu tố nguy cơ.