Không được cung cấp rõ ràng trong văn bản.
Y học (Huyết học - Truyền máu).
Luận án này tập trung vào việc đánh giá hiệu quả và các yếu tố liên quan đến ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài (TBG) trong điều trị lơ xê mi cấp dòng tủy (LXM cấp dòng tủy), một bệnh máu ác tính nghiêm trọng. Phương pháp ghép TBG đồng loài được công nhận là một phương pháp hiện đại, mang lại cơ hội khỏi bệnh và cuộc sống bình thường cho bệnh nhân. Tại Việt Nam, một số bệnh viện lớn đã triển khai kỹ thuật này, trong đó Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương đã thực hiện thành công từ năm 2008.
Mục tiêu chính của đề tài là nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm trước, trong, sau ghép, đồng thời đánh giá kết quả điều trị và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân LXM cấp dòng tủy được điều trị bằng ghép TBG đồng loài.
Tổng quan tài liệu cung cấp cái nhìn sâu sắc về LXM cấp dòng tủy, định nghĩa là sự tăng sinh và tích lũy tế bào non ác tính (blast) trong tủy xương và máu ngoại vi, dẫn đến suy tủy xương và thâm nhiễm mô. Các tiêu chuẩn chẩn đoán xác định dựa trên lâm sàng và xét nghiệm tủy đồ (≥ 20% tế bào blast theo WHO 2001). Tài liệu cũng đề cập đến các yếu tố tiên lượng dựa trên tổn thương di truyền tế bào. Về điều trị, mục đích là tiêu diệt tối đa tế bào ác tính để đạt lui bệnh hoàn toàn và hạn chế tái phát, với các nguyên tắc như đa hóa trị liệu, liệu trình nhiều đợt, phối hợp hóa trị liệu với ghép TBG tạo máu và điều trị nhắm đích. Ghép TBG tạo máu đồng loài đã được thực hiện rộng rãi trên thế giới từ năm 1957.
Nghiên cứu thực hiện trên 25 bệnh nhân LXM cấp dòng tủy tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2015, tuân thủ các tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân (tuổi < 50, đạt lui bệnh hoàn toàn, có người hiến phù hợp HLA) và người hiến. Các quy trình ghép TBG theo chuẩn Bộ Y tế năm 2005 được áp dụng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn bệnh nhân có biểu hiện thiếu máu tại ngày 30 sau ghép (92%), nhưng trung bình 99,7 ngày sau ghép triệu chứng trở về bình thường. Sốt và xuất huyết cũng là các biến chứng thường gặp. Về xét nghiệm, có sự thay đổi về công thức nhiễm sắc thể trước và sau ghép ở một số bệnh nhân. Đánh giá mọc mảnh ghép, 4% bệnh nhân không mọc mảnh ghép và 16% mọc kém. Thời gian mọc trung bình của bạch cầu là 19,4 ngày và tiểu cầu là 23,8 ngày. Hầu hết bệnh nhân (88%) đạt chimerism hoàn toàn của người hiến ở ngày 30 sau ghép. Tỷ lệ sống tại thời điểm 100 ngày sau ghép là 88%, và 60% bệnh nhân còn sống đến thời điểm kết thúc nghiên cứu (theo dõi trung bình 34,2 tháng). Có 7 bệnh nhân tái phát sau ghép, với các thời điểm và vị trí khác nhau.