NGHIÊN CỨU GIẢU PHẪU VÀ ỨNG DỤNG VẠT DA CUỐNG HẸP NHÁNH XUYÊN ĐỘNG MẠCH GIAN SƯỜN TRONG ĐIỀU TRỊ BỎNG SÂU VÀ DI CHỨNG BỎNG CHI TRÊN
Ngoại bỏng
Luận án "Nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng vạt da cuống hẹp nhánh xuyên động mạch gian sườn trong điều trị bỏng sâu và di chứng bỏng chi trên" thuộc chuyên ngành Ngoại bỏng, được hoàn thành tại Học viện Quân Y. Đề tài xuất phát từ thực tiễn khó khăn trong việc tìm kiếm chất liệu phù hợp để che phủ các tổn khuyết mô mềm có lộ gân, xương, khớp trong điều trị bỏng sâu và di chứng bỏng chi trên. Các phương pháp hiện có như ghép da tự do thường gặp hạn chế về cảm giác, màu sắc, co rút tái phát và không thích hợp để che phủ các cấu trúc sâu. Các loại vạt da kinh điển khác cũng tồn tại nhược điểm như phải hy sinh mạch máu lớn, để lại sẹo xấu hoặc yêu cầu thời gian cố định lâu, vạt dày cộm ảnh hưởng thẩm mỹ.
Nghiên cứu này nhằm hai mục tiêu chính: khảo sát đặc điểm giải phẫu nhánh xuyên động mạch gian sườn bên của động mạch gian sườn 5, 6, 7, 8, 9, 10 trên xác người Việt Nam trưởng thành; và đánh giá kết quả sử dụng vạt da cuống hẹp nhánh xuyên động mạch gian sườn bên (từ gian sườn 5-10) để che phủ các tổn khuyết trong điều trị bỏng sâu chi trên và di chứng bỏng chi trên. Luận án gồm 124 trang, với 4 chương chính: Tổng quan tài liệu, Đối tượng và phương pháp nghiên cứu, Kết quả nghiên cứu, và Bàn luận. Luận án cũng bao gồm 37 bảng, 6 hình, 51 ảnh và 138 tài liệu tham khảo.
Về phương pháp, nghiên cứu giải phẫu được tiến hành trên 18 xác người Việt Nam trưởng thành để khảo sát số lượng, nguyên ủy, chiều dài, đường kính các nhánh xuyên gian sườn bên từ gian sườn 6 đến 10. Nghiên cứu lâm sàng là một nghiên cứu tiến cứu can thiệp không đối chứng, ứng dụng 40 vạt nhánh xuyên gian sườn bên để che phủ tổn khuyết trên 40 chi của 29 bệnh nhân tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Các bệnh nhân được chia thành hai nhóm: bỏng mới (7 vạt) và di chứng bỏng (33 vạt). Quy trình phẫu thuật bao gồm chuẩn bị bệnh nhân, nền tổn khuyết, tạo và chuyển vạt. Đặc biệt, luận án đã nghiên cứu rút ngắn thời gian kẹp cuống vạt bằng kỹ thuật vạt Delay. Kết quả được đánh giá dựa trên tình trạng vạt, liền vết thương, biến chứng và biên độ vận động (ROM) sau phẫu thuật, với dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0.