NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG DI TRUYỀN NGUỒN GEN MƯỚP (Luffa aegyptiaca Mill.) Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM PHỤC VỤ CÔNG TÁC CHỌN TẠO GIỐNG
Di truyền và chọn giống cây trồng
Mướp (Luffa aegyptiaca Mill.) là cây rau quan trọng, giàu giá trị dinh dưỡng và được trồng phổ biến tại Việt Nam. Tuy nhiên, sản xuất mướp đang đối mặt với nhiều thách thức như sự thoái hóa, lẫn tạp của giống địa phương và sự phụ thuộc vào nguồn hạt giống nhập nội, dẫn đến năng suất và chất lượng thấp. Các nghiên cứu về đa dạng di truyền của cây mướp ở miền Bắc Việt Nam vẫn còn hạn chế.
Luận án này được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá đặc điểm nông sinh học, đa dạng hình thái và mức độ đa dạng di truyền của tập đoàn 108 mẫu giống mướp địa phương thu thập tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu cũng hướng tới việc tuyển chọn và giới thiệu các mẫu giống mướp triển vọng có năng suất cao, chất lượng tốt và khả năng kháng bệnh phấn trắng, phục vụ trực tiếp cho công tác chọn tạo giống và phát triển sản xuất.
Những đóng góp chính của đề tài bao gồm việc tạo lập một bộ dữ liệu khoa học hệ thống về đặc điểm nông sinh học và đa dạng di truyền của nguồn gen mướp miền Bắc Việt Nam. Nghiên cứu đã phát hiện 5 locut nhận dạng alen đặc trưng cho 7 mẫu giống mướp, cung cấp chỉ thị phân tử quan trọng cho việc nhận dạng và bảo tồn nguồn gen. Đặc biệt, luận án đã xác định được 4 mẫu giống (M41, M47, M95, M70) kháng cao bệnh phấn trắng và 3 mẫu giống (M41, M47, M95) kháng cao đồng thời cả bệnh phấn trắng và sương mai, đây là nguồn vật liệu khởi đầu quý giá cho công tác lai tạo giống kháng bệnh.
Thông qua đánh giá toàn diện, luận án đã tuyển chọn và giới thiệu 3 mẫu giống mướp triển vọng cho sản xuất: M41 - Mướp hương (SĐK12246) với năng suất 22,07 tấn/ha, độ brix 4,9%, vitamin C 7,3 mg/100g, protein 0,92 g; M47 - Má noi (SĐK15380) có năng suất 21,5 tấn/ha, độ brix 4,6%, vitamin C 7,7 mg/100g, protein 0,95 g; và M70 - Cà lây (SĐK19987) đạt năng suất 20,87 tấn/ha, độ brix 4,4%, vitamin C 7,5 mg/100g, protein 0,95 g. Cả ba giống này đều có chất lượng tốt, vị ngọt đậm, dẻo và mùi thơm, đồng thời biểu hiện khả năng kháng cao bệnh phấn trắng.
Các kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, góp phần cung cấp dẫn liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát triển nguồn gen mướp, đồng thời mang lại vật liệu có giá trị cho người sản xuất. Đề tài cũng đưa ra khuyến nghị tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về khả năng kháng bệnh và tiến hành khảo nghiệm sinh thái diện rộng để đưa các giống triển vọng vào sản xuất.