Nghiên cứu hiệu quả của phương pháp đốt nhiệt sóng cao tần kết hợp hóa chất toàn thân trong điều trị ung thư đại trực tràng di căn gan không còn chỉ định phẫu thuật.
Y học (Ung bướu)
Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là một trong những loại ung thư phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam, với tỷ lệ di căn gan rất cao do đặc điểm giải phẫu tĩnh mạch đổ về gan. Ước tính có khoảng 20-25% bệnh nhân UTĐTT được phát hiện di căn gan đồng thời với u nguyên phát, và khoảng 20-30% trường hợp tiến triển di căn gan trong vòng 3 năm sau điều trị triệt căn ban đầu. Phẫu thuật là phương pháp điều trị tối ưu nhưng chỉ áp dụng được cho khoảng 20% số bệnh nhân. Theo GLOBOCAN năm 2012, trên toàn thế giới có khoảng 1.306.056 trường hợp mới mắc UTĐTT, chiếm khoảng 10% tổng số các bệnh lý ung thư.
Nội dung tài liệu tập trung vào đánh giá hiệu quả và an toàn của phương pháp đốt nhiệt sóng cao tần (ĐNSCT) kết hợp hóa chất toàn thân cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng di căn gan không còn chỉ định phẫu thuật. Phương pháp nội soi đại trực tràng ống mềm được nhấn mạnh là có giá trị cao trong chẩn đoán, cho phép quan sát trực tiếp, xác định hình dạng, vị trí và kích thước khối u.
Nghiên cứu đã ghi nhận các tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân như đã điều trị can thiệp gan trước đó, có bệnh nặng kết hợp (suy tim, suy thận, đặt máy tạo nhịp, rối loạn đông máu) hoặc không thể theo dõi. Về điều trị, hóa chất toàn thân được áp dụng sau ĐNSCT 2 tuần, với các phác đồ như FOLFOX4 hoặc FOLFIRI tùy trường hợp. Các yếu tố lâm sàng được thu thập bao gồm tuổi, giới, vị trí u nguyên phát, đặc điểm di căn gan, loại kim điện cực sử dụng.
Kết quả cho thấy, tất cả bệnh nhân đều có đau vùng gan sau can thiệp nhưng chủ yếu ở mức độ nhẹ và vừa. Các biến chứng sau ĐNSCT thấp (4,8%), bao gồm tràn dịch màng phổi (3,3%) và reo rắc tế bào ung thư trên đường chọc kim (1,6%), không có trường hợp tử vong liên quan đến kỹ thuật. Độc tính của hóa chất chủ yếu ở độ I hoặc II, thường gặp nhất là giảm bạch cầu (50,8%), tăng men gan (độ I: 54,1%, độ II: 13,1%, độ III: 3,3%, độ IV: 4,9%) và mệt mỏi (độ I: 37,7%). Độc tính trên hệ tiêu hóa cao hơn ở nhóm FOLFIRI, trong khi độc tính thần kinh cao hơn ở nhóm FOLFOX4.
Về đáp ứng khối u, 100% bệnh nhân có đáp ứng sau ĐNSCT, trong đó đáp ứng hoàn toàn là 59,0%. Sau 12 chu kỳ hóa trị, tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn tăng lên 73,5%. Nhóm bệnh nhân có đường kính u lớn nhất dưới 3cm và tổng đường kính u nhỏ hơn có tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn cao hơn. Thời gian sống thêm toàn bộ trung bình của nhóm nghiên cứu là 36,77 ± 2,86 tháng, có liên quan đến số lượng di căn, kích thước u lớn nhất, tổng đường kính u, chỉ số ECOG và CEA trước điều trị.
Tóm lại, ĐNSCT kết hợp hóa chất toàn thân là phương pháp an toàn và có hiệu quả trong điều trị ung thư đại trực tràng di căn gan không còn chỉ định phẫu thuật. Phương pháp này nên được xem xét triển khai rộng rãi tại các bệnh viện có đủ trang thiết bị, đồng thời cần cân nhắc chỉ định cụ thể cho từng bệnh nhân để tối ưu hóa lợi ích và chi phí.