THỰC TRẠNG VIÊM MŨI DỊ ỨNG DO DỊ NGUYÊN BỤI BÔNG Ở CÔNG NHÂN DỆT MAY NAM ĐỊNH VÀ KẾT QUẢ GIẢI PHÁP CAN THIỆP
Y tế công cộng
Luận án "Thực trạng viêm mũi dị ứng do dị nguyên bụi bông ở công nhân dệt may Nam Định và kết quả giải pháp can thiệp" của Nguyễn Giang Long được hoàn thành tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng vào năm 2018, thuộc chuyên ngành Y tế công cộng. Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá thực trạng bệnh viêm mũi dị ứng (VMDƯ) do dị nguyên bụi bông ở công nhân ngành dệt may tại Nam Định, phân tích các yếu tố liên quan và đánh giá hiệu quả của giải pháp can thiệp. Ngành dệt may, dù có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhưng đặc thù môi trường lao động với dị nguyên bụi bông là một trong những nguyên nhân gây ra các bệnh dị ứng đường hô hấp trên như viêm mũi dị ứng và hen phế quản.
Các mục tiêu chính của nghiên cứu bao gồm: mô tả thực trạng VMDƯ do bụi bông ở công nhân cơ sở dệt may Nam Định giai đoạn 2014-2016; phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng VMDƯ do bụi bông của công nhân; và đánh giá kết quả của giải pháp can thiệp bằng truyền thông thay đổi hành vi kết hợp với thuốc kháng Leukotriene (Montelukast) trên nhóm công nhân mắc bệnh.
Kết quả nghiên cứu trên 1082 công nhân tại 2 cơ sở dệt may ở Nam Định cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng chung là 62,3%, và tỷ lệ mắc VMDƯ do dị nguyên bụi bông chung trên tổng số công nhân là 14,3%. Tỷ lệ mắc VMDƯ cao hơn đáng kể ở công nhân nhà máy sợi Nam Định (22,0%) so với công ty may Sông Hồng (10,4%). Các yếu tố liên quan được xác định bao gồm giới tính (công nhân nam có nguy cơ mắc cao gấp 1,7 lần so với nữ), tiền sử dị ứng cá nhân (nguy cơ cao gấp 2,4 lần) và tiền sử dị ứng gia đình (nguy cơ cao gấp 17,6 lần).
Giải pháp can thiệp được triển khai bao gồm truyền thông giáo dục sức khỏe và sử dụng thuốc Montelukast. Sau 6 tháng can thiệp, kiến thức và thực hành đúng về bệnh VMDƯ của công nhân đã tăng lên rõ rệt, đặc biệt là thực hành rửa mũi sau ca làm việc. Can thiệp có hiệu quả tốt nhất đối với các triệu chứng ở mức độ nhẹ và trung bình (cả cơ năng và thực thể). Về cận lâm sàng, nhóm sử dụng Montelukast có tỷ lệ giảm hàm lượng IgE trong máu >20% là 83,3%, cao hơn đáng kể so với nhóm chỉ can thiệp truyền thông (39,6%).
Luận án cung cấp số liệu quan trọng làm hoàn thiện việc đánh giá chung về tỷ lệ mắc VMDƯ, các yếu tố liên quan và hiệu quả can thiệp cộng đồng đối với bệnh này do bụi bông, đặc biệt tại địa bàn tỉnh Nam Định. Từ đó, đề tài khuyến nghị người lao động duy trì khám sức khỏe định kỳ và sử dụng bảo hộ lao động, đồng thời y tế nhà máy cần triển khai khám định kỳ và quản lý, tư vấn điều trị VMDƯ bằng Montelukast.