PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG (Mã ngành: 62340201)
Các doanh nghiệp Việt Nam đóng vai trò thiết yếu trong phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đáng kể vào GDP và tạo việc làm. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp còn đối mặt với hạn chế về vốn và năng lực cạnh tranh, dẫn đến tình trạng tạm ngừng hoạt động. Do đó, việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là yêu cầu cấp thiết. Luận án tiến sĩ này, với tiêu đề "Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp tại Việt Nam," tập trung vào việc xác định các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động, đặc biệt là ảnh hưởng của cấu trúc vốn, nhằm đề xuất các giải pháp phù hợp.
Mục tiêu chung của nghiên cứu là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động, đặc biệt là tác động của cấu trúc vốn, của các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2016. Để đạt được mục tiêu này, luận án đánh giá khái quát tình hình hoạt động, phân tích các yếu tố ảnh hưởng, làm rõ mối quan hệ tương tác hai chiều giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động, đồng thời đề xuất khuyến nghị nâng cao hiệu quả.
Nghiên cứu sử dụng số liệu từ 33.410 quan sát của 19.451 doanh nghiệp Việt Nam, thu thập từ các cuộc Điều tra Doanh nghiệp do Tổng cục Thống kê thực hiện giai đoạn 2009 – 2016. Phương pháp hàm sản xuất biên ngẫu nhiên Cobb-Douglas được áp dụng để ước lượng hiệu quả hoạt động, với lợi nhuận trước thuế là đầu ra và vốn, lao động, chi phí hoạt động là các yếu tố đầu vào. Phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất ba bước (3SLS) với hiệu ứng cố định của doanh nghiệp được sử dụng để phân tích mối quan hệ tương tác đồng thời giữa cấu trúc vốn (CTV) và hiệu quả hoạt động (HQHĐ).
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả hoạt động trung bình của các doanh nghiệp trong giai đoạn 2009-2016 đạt 74,09%. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có hiệu quả cao nhất (74,37%), trong khi ngành nông, lâm, thủy sản có hiệu quả thấp nhất (71,46%). Hiệu quả hoạt động có xu hướng giảm dần từ trên 92% (năm 2009) xuống dưới 67% (năm 2016) do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Luận án khẳng định mối quan hệ phi tuyến (hình chữ U ngược) giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động, với ngưỡng tỷ lệ nợ tối ưu để đạt hiệu quả cao nhất là 57,28% (đối với EFF) và 24,40% (đối với ROA). Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động bao gồm cấu trúc vốn, tỷ lệ tài sản hữu hình, tốc độ tăng trưởng tài sản, quy mô, thời gian hoạt động và hình thức sở hữu. Ngược lại, hiệu quả hoạt động, tỷ lệ tài sản hữu hình, tốc độ tăng trưởng, quy mô, thời gian hoạt động, đặc điểm riêng của tài sản và lợi ích thuế phi nợ vay cũng tác động đến cấu trúc vốn.
Từ những kết quả trên, luận án đề xuất các giải pháp cho doanh nghiệp như sử dụng hợp lý các yếu tố đầu vào, cải thiện quy mô đầu ra, điều chỉnh hợp lý nguồn vốn vay theo ngưỡng tối ưu của từng ngành, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản hữu hình, tận dụng cơ hội tăng trưởng và cập nhật công nghệ. Đối với cơ quan quản lý Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước, các kiến nghị bao gồm phát triển thị trường vốn, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn, và nâng cao tính công khai, minh bạch trong báo cáo tài chính.