NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG LOÃNG XƯƠNG VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT THAY KHỚP HÁNG BIPOLAR ĐIỀU TRỊ GÃY LIÊN MẤU CHUYỂN XƯƠNG ĐÙI
Y học
Luận án tập trung nghiên cứu tình trạng loãng xương và đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp háng bán phần Bipolar trong điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi ở người cao tuổi. Đối tượng nghiên cứu bao gồm 60 bệnh nhân từ 70 tuổi trở lên bị gãy liên mấu chuyển xương đùi độ A1, A2 theo phân loại AO, có loãng xương độ 1-2-3 theo Singh, được điều trị tại Bệnh viện 103 trong giai đoạn từ tháng 7/2012 đến tháng 10/2015.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tất cả bệnh nhân cao tuổi gãy liên mấu chuyển xương đùi có loãng xương theo phân độ Singh (độ 1, 2, 3) đều được xác nhận bị loãng xương khi đo bằng phương pháp DEXA với T-score ≤ -2,5. Mức độ loãng xương nghiêm trọng được ghi nhận ở các vùng khác nhau của đầu trên xương đùi, với T-score trung bình ở cổ xương đùi là -3,62±0,55, vùng mấu chuyển là -3,03±0,44, vùng liên mấu chuyển là -3,2±0,40, vùng Wards là -3,91±0,58, và tổng thể là -3,20±0,53. Đáng chú ý, 55,0% bệnh nhân có bệnh tăng huyết áp kết hợp. Thời điểm phẫu thuật trung bình là 2,3±2,3 ngày, với 78,33% bệnh nhân được phẫu thuật trong 3 ngày đầu.
Nghiên cứu cũng chỉ ra mối tương quan có ý nghĩa thống kê (p=0,044) giữa phân độ loãng xương theo Singh và chỉ số T-score của DEXA, gợi ý rằng chỉ số Singh có thể là công cụ hữu ích để đánh giá loãng xương tại các cơ sở y tế chưa có máy đo DEXA. Sau phẫu thuật từ 1 năm trở lên, kết hợp với điều trị loãng xương, mật độ khoáng xương vùng đầu trên xương đùi được cải thiện đáng kể về mặt thống kê (p < 0,05), thể hiện qua sự tăng T-score ở tất cả các vùng đo. Cụ thể, T-score vùng cổ xương đùi tăng từ -3,60±0,57 lên -2,97±0,32; vùng mấu chuyển từ -3,03±0,43 lên -2,62±0,31; vùng liên mấu chuyển từ -3,03±0,41 lên -2,57±0,31; vùng Wards từ -3,86±0,60 lên -2,94±0,33; và tổng thể từ -3,24±0,55 lên -2,79±0,41 (tất cả đều có p=0,000).
Về biến chứng, 100% bệnh nhân được phẫu thuật an toàn. Biến chứng sớm sau mổ ghi nhận 01 bệnh nhân ngắn chi 1,5cm và 01 bệnh nhân ngắn chi 01cm. Biến chứng xa sau 1 năm có 4 bệnh nhân mòn ổ cối độ 1 (7,55%), không có trường hợp lỏng chuôi. Kết quả chức năng theo Merle D’-Postel cho thấy tỷ lệ kết quả xấu chiếm 3,77% thuộc nhóm A2. Kỹ thuật phẫu thuật sử dụng đường mổ Gibson (10-15cm), việc cắt chỏm trước khi cố định mảnh vỡ giúp tránh di lệch, và dùng ráp ống tủy làm cốt giúp cố định mảnh vỡ vững chắc.