info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Một số căn nguyên vi rút gây hội chứng viêm não cấp tại tỉnh Bắc Giang, 2004-2017

Năm2020
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

MỘT SỐ CĂN NGUYÊN VI RÚT GÂY HỘI CHỨNG VIÊM NÃO CẤP TẠI TỈNH BẮC GIANG, 2004-2017

Ngành:

Vi sinh y học

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Hội chứng viêm não cấp (HCVNC) do vi rút là một vấn đề y tế công cộng toàn cầu với tỷ lệ tử vong cao (10-20%) và nguy cơ di chứng thần kinh nặng nề. Tại Việt Nam, vi rút viêm não Nhật Bản (VNNB) là tác nhân hàng đầu gây HCVNC ở trẻ em. Riêng tại Bắc Giang, một tỉnh miền núi phía Bắc, mặc dù vắc xin VNNB đã được tăng cường sử dụng từ năm 2000, các trường hợp HCVNC vẫn còn là một vấn đề y tế đáng quan tâm, với nhiều ca bệnh không rõ căn nguyên. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu xác định một số căn nguyên vi rút Arbo, vi rút đường ruột và vi rút Herpes gây HCVNC tại Bắc Giang trong giai đoạn 2004-2017, đồng thời mô tả các đặc điểm sinh học phân tử của VNNB và vi rút đường ruột (VRĐR) gây HCVNC trong cùng giai đoạn.

Luận án đã phân tích 594 trường hợp HCVNC tại Bắc Giang từ năm 2004-2017, phát hiện bệnh xuất hiện ở tất cả 10 huyện/thành phố. Kết quả cho thấy 50,84% các trường hợp HCVNC được xác định căn nguyên, bao gồm VNNB (20,20%), vi rút Banna (18,86%), VRĐR (13,13%) và vi rút Nam Định (4,71%). Nghiên cứu không phát hiện trường hợp nào do vi rút herpes. Đặc điểm dịch tễ học chỉ ra rằng HCVNC chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi dưới 15, nam giới có tỷ lệ mắc cao hơn nữ giới, và bệnh thường xảy ra vào mùa hè (tháng 4 đến tháng 8), với đỉnh dịch vào tháng 6. Đối với VNNB, phần lớn các ca bệnh (64,17%) chưa được tiêm phòng vắc xin hoặc tiêm không đầy đủ (35,83%), và có sự dịch chuyển nhóm tuổi mắc VNNB sang nhóm tuổi cao hơn. Về đặc điểm phân tử, cả genotype I và GIII của VNNB đều lưu hành tại Bắc Giang, với sự khác biệt về trình tự nucleotide giữa các chủng trong khu vực. Đối với VRĐR, 4 týp huyết thanh (E6, E30, E33, E4) thuộc nhóm B đã được phát hiện, trong đó E30 và E6 chiếm ưu thế. Týp E4 được ghi nhận lần đầu tiên tại Việt Nam trong nghiên cứu này, cho thấy các chủng VRĐR tại Bắc Giang có độ tương đồng di truyền cao với các chủng toàn cầu.

Kết quả nghiên cứu cung cấp các số liệu quan trọng cho công tác giám sát, chẩn đoán, điều trị và dự phòng HCVNC. Luận án khuyến nghị cần tiếp tục nghiên cứu để xác định gần 50% căn nguyên HCVNC chưa rõ, tăng cường việc sử dụng vắc xin VNNB đầy đủ và đúng lịch, cũng như tăng cường các biện pháp dự phòng đối với những tác nhân lây truyền trực tiếp khi chưa có vắc xin.

Tài liệu liên quan