“Đánh giá ô nhiễm và nguy cơ do độc tố vi nấm trong thực phẩm tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam”
Kiểm nghiệm Thuốc – Độc chất. Mã số: 62 72 04 10
Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Hữu Tuấn, thuộc chuyên ngành Kiểm nghiệm Thuốc – Độc chất, tập trung nghiên cứu “Đánh giá ô nhiễm và nguy cơ do độc tố vi nấm trong thực phẩm tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam”. Mục tiêu chính của luận án là xây dựng phương pháp phân tích đồng thời các độc tố aflatoxin, fumonisin B1, ochratoxin A và zearalenon trong gạo, ngô và các hạt có dầu; xác định tỷ lệ nhiễm và hàm lượng các độc tố này trên các mẫu thu thập tại các địa phương phía Bắc Việt Nam; và đánh giá nguy cơ phơi nhiễm đối với dân cư ở các địa phương đã khảo sát.
Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc phát triển quy trình xử lý mẫu hiệu quả, sử dụng acetonitril 1% acid acetic để chiết và làm sạch bằng d-SPE với MgSO4 và C18. Phân tích được thực hiện bằng sắc ký lỏng khối phổ (LC-MS/MS) trên cột Cortecs C18, với pha động amoni acetat và methanol, sử dụng nguồn ESI(+) và chế độ MRM. Phương pháp đã được thẩm định kỹ lưỡng về độ đặc hiệu, giới hạn phát hiện (LOD), giới hạn định lượng (LOQ), đường chuẩn, độ lặp lại và độ thu hồi, đáp ứng các tiêu chuẩn hiện hành như EC 401/2006 (CV% 1.5-12%, R% 70-120%).
Luận án đã tiến hành thu thập mẫu gạo, ngô, lạc, vừng tại Hà Nội, Thanh Hóa, Thái Bình, Bắc Giang và Hà Giang với cỡ mẫu tối thiểu 460 mẫu. Song song đó, điều tra lượng tiêu thụ thực phẩm và cân nặng của dân cư được thực hiện để đánh giá liều phơi nhiễm. Nguy cơ phơi nhiễm được tính toán dựa trên hàm lượng độc tố, mức tiêu thụ và cân nặng, sau đó so sánh với giá trị PMTDI/PMTWI hoặc tính toán nguy cơ ung thư gan do AFB1.
Kết quả khảo sát cho thấy, aflatoxin B1 (AFB1) là độc tố vi nấm được phát hiện nhiều nhất, đặc biệt tại Hà Giang, với hàm lượng trung bình trong ngô lên tới 139 µg/kg, cao hơn đáng kể so với các tỉnh khác (8-25 µg/kg). Ngô và lạc là hai loại thực phẩm có tỷ lệ nhiễm và hàm lượng độc tố vi nấm cao nhất. Về đánh giá nguy cơ, nguy cơ ung thư gan do phơi nhiễm aflatoxin cao nhất tại Hà Giang, dao động từ 14 đến 21 ca/năm/100.000 dân, cao hơn nhiều lần so với các tỉnh còn lại (0,50-0,76 ca/năm/100.000 dân). Đặc biệt, nhóm tuổi 3-6 có nguy cơ cao nhất. Đối với fumonisin B1 (FUB1) và zearalenon (ZEA), liều phơi nhiễm ở tất cả các tỉnh đều thấp hơn PMTDI. Tuy nhiên, liều phơi nhiễm ochratoxin A (OTA) tại Hà Giang cao hơn PMTWI, cho thấy nguy cơ đáng kể từ độc tố này đối với người dân Hà Giang.