VAI TRÒ CỦA XẠ HÌNH TƯỚI MÁU CƠ TIM BẰNG KỸ THUẬT SPECT-CT TRONG ĐÁNH GIÁ TÍNH SỐNG CÒN CƠ TIM
Nội Tim Mạch
Luận án tiến sĩ y học này nghiên cứu về vai trò của xạ hình tưới máu cơ tim bằng kỹ thuật SPECT-CT trong đánh giá tính sống còn cơ tim. Bệnh tim thiếu máu cục bộ (TMCB) là một vấn đề sức khỏe toàn cầu, ảnh hưởng đến hơn 110 triệu người và đã gia tăng 73,3% từ năm 1990 đến 2015. Việc đánh giá tính sống còn của cơ tim trên hình ảnh học có ứng dụng quan trọng, đặc biệt khi cơ tim có thể hồi phục chức năng sau tái thông mạch vành nếu mức độ giới hạn dòng máu cung cấp cho cơ tim thấp hoặc thời gian giới hạn ít. Xạ hình tưới máu cơ tim bằng SPECT-CT là một phương pháp phổ biến, có độ nhạy tốt, hiệu quả và chi phí thấp hơn so với PET, được khuyến cáo bởi ESC và EACTS để phát hiện vùng cơ tim sống còn, hỗ trợ quyết định tái tưới máu mạch vành. Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu trước đây về SPECT-CT chủ yếu tập trung vào việc triển khai và ứng dụng bước đầu, chưa có nghiên cứu chuyên sâu về đánh giá tính sống còn cơ tim trên bệnh nhân TMCB.
Nghiên cứu này có hai mục tiêu chuyên biệt: đánh giá các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân có sống còn cơ tim ở vùng thiếu máu (%SDS ≥ 10%) bằng kỹ thuật SPECT-CT, và xác định giá trị của việc đánh giá này trong điều trị can thiệp mạch vành. Đối tượng nghiên cứu là 149 bệnh nhân có nhồi máu cơ tim cũ và/hoặc suy tim do bệnh mạch vành, được thực hiện theo phương pháp nghiên cứu quan sát, tiến cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 06/2015 đến 12/2016.
Những đóng góp mới của nghiên cứu bao gồm việc xác định các đặc điểm lâm sàng (rối loạn lipid máu, tăng huyết áp thường gặp; đau ngực CCS 1; suy tim NYHA I-II) và cận lâm sàng (98,2% nhịp xoang; 32,1% NMCT cũ; 35,7% rối loạn vận động vùng mỏm tim; 28,6% giảm phân suất tống máu thất trái) ở nhóm bệnh nhân có %SDS ≥ 10%. Kết quả chụp SPECT-CT cho thấy độ nhạy cao nhất trong phát hiện sang thương ở nhánh LAD (90,2%) và độ đặc hiệu cao nhất ở nhánh LCx (96,8%). Đối với nhóm bệnh nhân có %SDS ≥ 10%, cải thiện NYHA ở nhóm can thiệp mạch vành cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm điều trị nội khoa. Tuy nhiên, tỉ lệ tử vong ở nhóm điều trị nội khoa cao hơn nhưng sự khác biệt chưa đạt ý nghĩa thống kê. Đối với nhóm %SDS < 10%, không có sự khác biệt ý nghĩa về tỉ lệ tử vong và cải thiện NYHA giữa can thiệp mạch vành và điều trị nội khoa.
Luận án kiến nghị xem xét chỉ định can thiệp mạch vành cho bệnh nhân có %SDS ≥ 10% và cân nhắc điều trị nội khoa tối ưu cho bệnh nhân có %SDS < 10%. Nghiên cứu cũng đề xuất cần có các nghiên cứu lớn hơn trong tương lai để bổ sung thông tin hữu ích.