info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOCX

Luận án Ứng dụng mô hình hóa xác định nhu cầu năng lượng và protein để phát triển thức ăn cho cá lóc (Channa striata)

Năm2018
Lĩnh vựcNông - Lâm - Ngư
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH HÓA XÁC ĐỊNH NHU CẦU NĂNG LƯỢNG VÀ PROTEIN ĐỂ PHÁT TRIỂN THỨC ĂN CHO CÁ LÓC (Channa striata)

Ngành:

Nuôi trồng thủy sản (Mã ngành: 62 62 03 01)

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án "ỨNG DỤNG MÔ HÌNH HÓA XÁC ĐỊNH NHU CẦU NĂNG LƯỢNG VÀ PROTEIN ĐỂ PHÁT TRIỂN THỨC ĂN CHO CÁ LÓC (Channa striata)" tập trung giải quyết vấn đề chi phí và chất lượng thức ăn trong sản xuất thủy sản, vốn chiếm 60-70% tổng chi phí. Mục tiêu chính là xác định nhu cầu dinh dưỡng (năng lượng, protein, acid amin) và khả năng tiêu hóa của các nguồn nguyên liệu phổ biến ở cá lóc (Channa striata) nhằm xây dựng công thức thức ăn phù hợp cho các giai đoạn nuôi thương phẩm.

Nghiên cứu đã khảo sát đặc điểm phát triển ống tiêu hóa và hoạt tính enzyme của cá lóc từ giai đoạn bột đến 35 ngày tuổi, cho thấy ống tiêu hóa hoàn thiện về mặt hình thái và mô học vào ngày thứ 12, với sự thay đổi hoạt tính enzyme tiêu hóa, đặc biệt là amylase, khi chuyển đổi từ thức ăn tươi sống sang thức ăn chế biến. Thời điểm thu phân thích hợp được xác định là 8 giờ sau khi ăn và phương pháp lắng cho kết quả tốt nhất.

Ứng dụng mô hình năng lượng sinh học, luận án đã xác định nhu cầu năng lượng tiêu hóa duy trì của cá lóc là 43,7 kJ/kg0,82/ngày với hiệu quả sử dụng 47,6%. Nhu cầu protein tiêu hóa duy trì là 0,41 g/kg0,76/ngày với hiệu quả sử dụng 58,2%. Nhu cầu methionine và lysine tiêu hóa duy trì lần lượt là 0,015 g/kg0,76/ngày (hiệu quả 60%) và 0,036 g/kg0,76/ngày (hiệu quả 64%). Nhu cầu protein tiêu hóa thay đổi theo mức năng lượng trong thức ăn và kích cỡ cá, giảm từ 42% (cá 5 g) xuống 30% (cá 500 g) với thức ăn có 16 MJ/kg năng lượng tiêu hóa. Tỷ lệ protein/năng lượng tiêu hóa (DP/DE) giảm từ 26,4 g/MJ (cá 5 g) xuống 18,6 g/MJ (cá 500 g).

Về khả năng tiêu hóa nguyên liệu, bột cá được tiêu hóa tốt nhất trong nhóm protein, còn cám gạo là nguồn carbohydrate được tiêu hóa tốt nhất. Thử nghiệm nuôi cho thấy thức ăn được xây dựng theo kết quả nghiên cứu (TA-B) mang lại hiệu quả vượt trội (khối lượng cá 455 g, FCR 1,27) so với thức ăn công nghiệp (khối lượng cá 399 g, FCR 1,50) sau 5 tháng nuôi. Kết quả này khẳng định tầm quan trọng của việc điều chỉnh hàm lượng protein trong thức ăn giảm dần theo nhu cầu dinh dưỡng của cá lóc trong suốt chu kỳ nuôi.

Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc phát triển công thức thức ăn hiệu quả, góp phần hoàn thiện quy trình nuôi cá lóc thương phẩm.

Tài liệu liên quan