TÍNH DỄ TỔN THƯƠNG VÀ CHIẾN LƯỢC THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TỘC KHMER Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
QUẢN LÝ KINH TẾ
Luận án "Tính dễ tổn thương và chiến lược thích ứng biến đổi khí hậu trong sinh kế của người dân tộc Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long" được hoàn thành tại Trường Đại học Trà Vinh vào năm 2023, thuộc ngành Quản lý Kinh tế. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu chung là phân tích thực trạng về tài sản sinh kế, các chiến lược thích ứng biến đổi khí hậu (BĐKH), tính dễ tổn thương (DBTT) về sinh kế và tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến tính DBTT về sinh kế của người dân tộc Khmer tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), từ đó đề xuất các hàm ý chính sách nhằm giảm thiểu tính DBTT.
Bối cảnh thực tiễn cho thấy ĐBSCL đang đối mặt với BĐKH phức tạp, đặc biệt là hạn hán và xâm nhập mặn, gây tác động nghiêm trọng đến sinh kế của người dân, đặc biệt là cộng đồng Khmer vốn đã chịu nhiều áp lực và chiếm tỷ lệ hộ nghèo cao. Đối tượng khảo sát bao gồm 426 hộ gia đình người Khmer tại ba tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng và Kiên Giang, cùng với 20 cán bộ quản lý và nhà khoa học. Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp định tính (phỏng vấn chuyên gia) và định lượng (thống kê mô tả, kiểm định giả thuyết, phân tích thành phần chính - PCA, chỉ số LVI, LVI-IPCC và hồi quy tuyến tính đa biến).
Kết quả nghiên cứu cho thấy các hộ Khmer có hạn chế trong tiếp cận các nguồn vốn sinh kế và có tính DBTT về sinh kế cao. Các thành phần chính của tính DBTT sinh kế đều ở mức độ tổn thương trung bình cao, đặc biệt là các chỉ số Lương thực và Mạng lưới xã hội. Kiên Giang là tỉnh có mức độ nhạy cảm cao nhất, trong khi năng lực thích ứng của các hộ Trà Vinh có mức độ tổn thương cao nhất và Sóc Trăng có mức độ phơi nhiễm tổn thương cao nhất. Phân tích hồi quy đã xác định 17 yếu tố có tác động đáng kể đến tính DBTT về sinh kế. Cụ thể, các yếu tố như trình độ học vấn, diện tích đất, tình trạng nhà ở, thu nhập từ nông nghiệp, tiếp cận thông tin, mạng lưới xã hội, chính sách hỗ trợ địa phương, và các chiến lược thích ứng (chủ động và ứng phó) có tác động làm giảm tính DBTT. Ngược lại, giới tính, số lao động, tỷ lệ phụ thuộc, tình trạng hộ nghèo, thu nhập từ phi nông nghiệp, tiếp cận tín dụng, các cú sốc BĐKH và dự báo BĐKH lại làm tăng mức độ DBTT.
Luận án đề xuất hai nhóm hàm ý chính sách nhằm giảm thiểu tính DBTT về sinh kế cho các hộ Khmer, tập trung vào cải thiện tài sản sinh kế và nâng cao hiệu quả các chiến lược thích ứng BĐKH. Tính mới của luận án nằm ở cách tiếp cận tổng thể, tích hợp tài sản sinh kế, chiến lược thích ứng và các yếu tố tác động đến tính DBTT, đồng thời sử dụng phương pháp đo lường chỉ số LVI với trọng số khác nhau từ phân tích thành phần chính (PCA).