THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KHÁM CHỮA BỆNH Y HỌC CỔ TRUYỀN TẠI MỘT SỐ TRẠM Y TẾ XÃ MIỀN NÚI THÁI NGUYÊN
Y tế công cộng
Luận án này tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động khám chữa bệnh (KCB) bằng Y học cổ truyền (YHCT) tại các trạm y tế xã (TYT xã) miền núi thuộc tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù YHCT có vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe, việc phát triển YHCT tại tuyến xã, đặc biệt ở các vùng miền núi khó khăn của Thái Nguyên, vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức. Các vấn đề nổi bật bao gồm sự thiếu hụt cả về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ YHCT, hạn chế về kiến thức và kỹ năng chuyên môn (nhất là châm cứu, thuốc Nam), cơ sở vật chất không đầy đủ (thiếu phòng chẩn trị riêng, kinh phí chuyên biệt, số lượng cây thuốc theo quy định), và công tác truyền thông, tư vấn về YHCT cho người dân chưa được triển khai hiệu quả.
Với ba mục tiêu chính, luận án đã mô tả thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động KCB YHCT tại các TYT xã huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên năm 2014; xây dựng các giải pháp nhằm cải thiện hoạt động KCB một số chứng bệnh thông thường bằng thuốc Nam và châm cứu; và đánh giá hiệu quả của các giải pháp này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù tỷ lệ KCB bằng YHCT tại các TYT xã đạt chỉ tiêu quốc gia, nhưng chủ yếu vẫn dựa vào việc sử dụng các chế phẩm y học cổ truyền, trong khi kiến thức và kỹ năng về châm cứu, thuốc Nam của cán bộ YHCT và nhân viên y tế thôn bản còn yếu.
Các giải pháp can thiệp đã được xây dựng và triển khai, bao gồm việc đầu tư trang thiết bị tối thiểu, cải thiện vườn thuốc Nam, và đặc biệt là nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ YHCT và nhân viên y tế thôn bản thông qua các khóa tập huấn về kiến thức, kỹ năng châm cứu, sử dụng và tư vấn thuốc Nam. Hiệu quả của các giải pháp này là rất rõ rệt: kiến thức và kỹ năng của cán bộ YHCT tại các xã can thiệp đạt mức tốt; tỷ lệ nhân viên y tế thôn bản có kỹ năng tư vấn thuốc Nam tốt tăng đáng kể; kiến thức và thực hành của người dân về trồng và sử dụng cây thuốc Nam để điều trị bệnh cũng được cải thiện vượt bậc. Tỷ lệ KCB bằng YHCT/tổng số KCB chung tại trạm tăng trên 30%, đặc biệt là điều trị bằng châm cứu và thuốc Nam. Mô hình KCB bằng YHCT sau can thiệp đã được cộng đồng chấp nhận và có tính bền vững, đồng thời nhận thức của cả cán bộ y tế và người dân về vai trò của YHCT trong chăm sóc sức khỏe đã được nâng cao. Luận án cũng đưa ra các khuyến nghị nhằm tăng cường nguồn lực, đào tạo liên tục, giảm sự phụ thuộc vào thuốc thành phẩm YHCT, đẩy mạnh truyền thông và nhân rộng mô hình can thiệp.