THỰC TRẠNG THỪA CÂN, BÉO PHÌ, YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ TỶ TRỌNG MỘT SỐ NHÓM VI KHUẨN CHÍ ĐƯỜNG RUỘT Ở HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Y tế công cộng
Luận án "Thực trạng thừa cân, béo phì, yếu tố nguy cơ và tỷ trọng một số nhóm vi khuẩn chí đường ruột ở học sinh trung học cơ sở tại thành phố Hà Nội" của Lưu Phương Dung, thuộc chuyên ngành Y tế công cộng, được thực hiện nhằm giải quyết vấn đề thừa cân, béo phì (TCBP) đang gia tăng nhanh chóng ở trẻ em, đặc biệt là lứa tuổi 11-14 tại Hà Nội. Nghiên cứu tập trung vào ba mục tiêu chính: mô tả thực trạng TCBP, xác định các yếu tố nguy cơ, và so sánh tỷ trọng một số nhóm vi khuẩn chí đường ruột giữa học sinh béo phì và học sinh có tình trạng dinh dưỡng bình thường.
Kết quả nghiên cứu năm 2017 cho thấy tỷ lệ TCBP ở học sinh 11-14 tuổi tại Hà Nội là 23,1% (thừa cân 16,9%, béo phì 6,2%), với tỷ lệ cao nhất ở nhóm 11 tuổi và giảm dần theo tuổi. Học sinh nam và khu vực nội thành có tỷ lệ TCBP cao hơn. Các yếu tố nguy cơ béo phì được xác định vào năm 2018 bao gồm thói quen ăn nhanh hơn, ăn nhiều hơn so với bạn bè cùng tuổi, cùng giới, và dành thời gian xem tivi >120 phút/ngày vào cuối tuần. Ngược lại, việc ăn sáng đầy đủ hàng ngày và tham gia các hoạt động thể thao giờ ra chơi tại trường là các yếu tố bảo vệ. Sự khuyến khích của cha mẹ trong hoạt động thể dục thể thao cũng có ý nghĩa.
Về tỷ trọng vi khuẩn chí đường ruột (2018-2019), nghiên cứu chưa tìm thấy sự khác biệt đáng kể ở nhóm tuổi 11-13. Tuy nhiên, ở nhóm học sinh 14 tuổi và học sinh nữ béo phì, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê: tăng tỷ trọng ngành Bacteroidete và chi Prevotella, cùng với giảm tỷ trọng ngành Firmicutes và chi Bifidobacterium (ở nữ) so với nhóm có tình trạng dinh dưỡng bình thường. Đây là nghiên cứu tiên phong tại Việt Nam về mối liên quan giữa vi khuẩn chí đường ruột và béo phì, cung cấp bằng chứng quan trọng cho công tác phòng chống TCBP. Luận án khuyến nghị phối hợp liên ngành Y tế - Giáo dục để đánh giá dinh dưỡng hàng năm, xây dựng môi trường học đường lành mạnh, và khuyến khích gia đình tạo thói quen dinh dưỡng, hoạt động thể lực phù hợp, hạn chế hoạt động tĩnh có sử dụng màn hình.