THỰC TRẠNG NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG SINH DỤC DƯỚI Ở PHỤ NỮ TỪ 18-49 TUỔI CÓ CHỒNG, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ KẾT QUẢ CAN THIỆP CỘNG ĐỒNG TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Y TẾ CÔNG CỘNG
Luận án nghiên cứu "Thực trạng nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ từ 18-49 tuổi có chồng, một số yếu tố liên quan và kết quả can thiệp cộng đồng tại Thành phố Cần Thơ" nhằm giải quyết vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng này. Nhiễm trùng đường sinh dục dưới (NTĐSDD) gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho phụ nữ, bao gồm vô sinh thứ phát, viêm vùng chậu, tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/STI và ung thư cổ tử cung, cũng như các biến chứng thai kỳ như sẩy thai, thai ngoài tử cung, sinh non. Bệnh thường gặp ở phụ nữ lứa tuổi đang hoạt động tình dục, nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời có thể chuyển sang mạn tính.
Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Cần Thơ với ba mục tiêu chính: xác định tỷ lệ mắc và các yếu tố liên quan đến NTĐSDD, mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về phòng chống NTĐSDD và đánh giá hiệu quả của can thiệp cộng đồng. Nghiên cứu đã cung cấp số liệu khoa học về tỷ lệ mắc, đặc điểm, tác nhân gây bệnh, thực trạng kiến thức/thực hành, các yếu tố liên quan và lần đầu tiên đưa tỷ lệ tái mắc vào nghiên cứu, làm số liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau.
Kết quả cho thấy, tỷ lệ mắc NTĐSDD ở phụ nữ có chồng tại Cần Thơ là 50,6%. Các loại nhiễm trùng phổ biến nhất là viêm lộ tuyến cổ tử cung đơn thuần (45,7%) và viêm âm đạo đơn thuần (31,1%). Tác nhân gây bệnh thường gặp là Gardnerella vaginalis (28,2%) và nấm Candida sp. (23,7%). Một yếu tố liên quan đáng kể đến việc mắc NTĐSDD là nơi cư trú ở vùng nông thôn (OR=1,75).
Về kiến thức và thực hành phòng chống, chỉ 40,3% phụ nữ có kiến thức đúng và 55,4% có thực hành đúng. Các yếu tố như trình độ học vấn thấp, sống ở nông thôn, và tình trạng kinh tế nghèo/cận nghèo liên quan đến kiến thức và thực hành chưa đúng. Thực hành vệ sinh sinh dục không đúng cách, vệ sinh sau lao động không đúng và quan hệ tình dục khi mắc viêm nhiễm sinh dục cũng làm tăng nguy cơ mắc NTĐSDD.
Sau 12 tháng can thiệp cộng đồng, tỷ lệ mắc NTĐSDD ở nhóm can thiệp giảm đáng kể từ 46,9% xuống 27,5% (hiệu quả 37,7%). Tỷ lệ tác nhân gây bệnh cũng giảm từ 31,8% xuống 13,9%. Đặc biệt, tỷ lệ tái mắc NTĐSDD ở nhóm can thiệp thấp hơn 1,69 lần so với nhóm chứng. Kiến thức đúng của nhóm can thiệp tăng từ 46,6% lên 89,5%, và thực hành đúng tăng từ 78,7% lên 92,6%. Những kết quả này khẳng định hiệu quả của các biện pháp can thiệp trong việc nâng cao kiến thức, thực hành và giảm tỷ lệ mắc, tái mắc NTĐSDD trong cộng đồng.