SỰ LÀM VIỆC CỦA MẶT ĐƯỜNG BÊ TÔNG XI MĂNG NỘI BẢO DƯỠNG TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM
Kỹ thuật cơ sở hạ tầng
Luận án "SỰ LÀM VIỆC CỦA MẶT ĐƯỜNG BÊ TÔNG XI MĂNG NỘI BẢO DƯỠNG TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM" của Lê Thái Bình, hoàn thành tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội vào năm 2022, tập trung giải quyết vấn đề bảo dưỡng mặt đường bê tông xi măng (BTXM) tại Việt Nam. Đề tài xuất phát từ thực trạng các phương pháp bảo dưỡng BTXM truyền thống thường kém hiệu quả, tốn kém và khó thực hiện, đặc biệt ở những khu vực địa hình phức tạp hoặc khan hiếm nước, dẫn đến suy giảm chất lượng kết cấu BT.
Nghiên cứu đề xuất và đánh giá giải pháp nội bảo dưỡng (Internal Curing - IC) bằng cách sử dụng vật liệu giữ nước bên trong hỗn hợp bê tông. Phương pháp này được kỳ vọng sẽ đơn giản hóa công tác bảo dưỡng, giảm chi phí, đồng thời hạn chế các hiện tượng co ngót, nứt sớm và cải thiện các tính chất cơ học của BT. Mục tiêu chính của luận án là thiết kế thành phần hỗn hợp, đánh giá các chỉ tiêu vật lý và cơ học cơ bản của BTXM nội bảo dưỡng, cũng như đánh giá khả năng ứng dụng và các ứng xử của nó trong điều kiện khí hậu Việt Nam, đặc biệt cho mặt đường ô tô từ cấp III trở xuống.
Các đóng góp mới của luận án bao gồm việc lựa chọn hàm lượng hợp lý cát nhẹ (keramzit) kết hợp phụ gia khoáng xỉ lò cao (XLC) nghiền mịn làm vật liệu nội bảo dưỡng. Nghiên cứu đã xác định được khoảng hệ số dư vữa tối ưu để đạt cường độ chịu nén, cường độ chịu kéo khi uốn và độ mài mòn đáp ứng yêu cầu kỹ thuật cho BTXM làm đường giao thông tới cấp III. Luận án cũng đã làm rõ sự làm việc của BTXM nội bảo dưỡng trong kết cấu mặt đường giao thông và cung cấp các kết quả để kiểm toán tiêu chuẩn tính toán kết cấu.
Kết quả thực nghiệm cho thấy BTXM nội bảo dưỡng có 35% XLC cho cường độ nén và cường độ kéo khi uốn vượt trội so với BTXM thông thường và BT IC không XLC. Chế độ bảo dưỡng đơn giản (phủ vải, tưới ẩm một lần sau thi công) cũng cho thấy khả năng phát triển cường độ tốt, phù hợp với điều kiện thi công địa phương. Luận án khẳng định ưu điểm của nội bảo dưỡng trong việc tự điều chỉnh quá trình dưỡng ẩm, tối giản hóa công tác bảo dưỡng và khả năng kiểm soát rủi ro hư hỏng, từ đó đề xuất quy trình thi công phù hợp.