info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án So sánh hiệu quả và độ an toàn của kỹ thuật cắt niêm mạc qua nội soi dưới nước với cắt niêm mạc qua nội soi quy ước trong điều trị tổn thương tân sinh không cuống đại trực tràng

Năm2025
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

SO SÁNH HIỆU QUẢ VÀ ĐỘ AN TOÀN CỦA KỸ THUẬT CẮT NIÊM MẠC QUA NỘI SOI DƯỚI NƯỚC VỚI CẮT NIÊM MẠC QUA NỘI SOI QUY ƯỚC TRONG ĐIỀU TRỊ TỔN THƯƠNG TÂN SINH KHÔNG CUỐNG ĐẠI TRỰC TRÀNG

Ngành:

Nội khoa

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án này tập trung so sánh hiệu quả và độ an toàn của kỹ thuật cắt niêm mạc qua nội soi dưới nước (UEMR) với kỹ thuật cắt niêm mạc qua nội soi quy ước (CEMR) trong điều trị các tổn thương tân sinh không cuống đại trực tràng. Tổn thương tân sinh đại trực tràng là nguyên nhân phổ biến của ung thư đại trực tràng tại Việt Nam, với các tổn thương không cuống có nguy cơ xâm lấn và tái phát cao nếu không được cắt trọn. Trong khi CEMR được khuyến nghị cho các tổn thương ≥ 10mm, phương pháp này còn tồn tại hạn chế về tỉ lệ cắt trọn và tái phát. Kỹ thuật cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi (ESD) có tỉ lệ cắt trọn cao hơn nhưng phức tạp, chi phí cao và nhiều biến chứng.

UEMR, được giới thiệu vào năm 2012, đã cho thấy tiềm năng trong việc điều trị hiệu quả các tổn thương tân sinh đại trực tràng với khả năng cắt trọn dễ dàng hơn và ít biến chứng. Tuy nhiên, các bằng chứng so sánh trực tiếp UEMR với CEMR về hiệu quả cắt trọn trên nội soi và mô bệnh học, tỉ lệ biến chứng, thời gian thủ thuật và số lượng clip sử dụng còn hạn chế, đặc biệt là tại Việt Nam.

Để giải quyết khoảng trống này, nghiên cứu đã tiến hành một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng tại Khoa Nội soi, Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM từ tháng 10/2022 đến tháng 07/2024. Nghiên cứu bao gồm 260 trường hợp tổn thương tân sinh không cuống đại trực tràng có kích thước 10–30 mm, chia đều thành hai nhóm UEMR và CEMR (mỗi nhóm 130 tổn thương). Mục tiêu chính là đánh giá tỉ lệ cắt trọn, tỉ lệ chảy máu và thủng trong vòng 14 ngày, thời gian thủ thuật và số lượng clip cần thiết.

Kết quả cho thấy UEMR có tỉ lệ cắt trọn trên mô bệnh học (98,4% so với 90,3%; p=0,007) và trên nội soi (100% so với 94,6%; p=0,014) cao hơn đáng kể so với CEMR. Đặc biệt, đối với tổn thương u lan rộng sang bên có kích thước 20–30 mm, UEMR cũng cho thấy hiệu quả vượt trội. Về độ an toàn, UEMR có tỉ lệ biến chứng chảy máu thấp hơn (1,5% so với 10%; p=0,003), và không ghi nhận biến chứng thủng ở cả hai nhóm. Thời gian thủ thuật của UEMR ngắn hơn đáng kể (trung vị 65 giây so với 185 giây; p < 0,001) và số lượng clip sử dụng cũng ít hơn (trung vị 2 so với 3; p < 0,001) đối với tổn thương dạng 0-Is. Từ đó, luận án kết luận UEMR là một phương pháp hiệu quả và an toàn hơn CEMR, khuyến nghị xem xét UEMR như một lựa chọn thay thế, đặc biệt cho các tổn thương lớn, đồng thời cần triển khai và huấn luyện rộng rãi kỹ thuật này.

Mục lục chi tiết:

  • BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN (104 trang):

    • Đặt vấn đề và Mục tiêu nghiên cứu (3 trang)
    • Tổng quan tài liệu (30 trang)
    • Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (22 trang)
    • Kết quả nghiên cứu (20 trang)
    • Bàn luận (27 trang)
    • Kết luận và kiến nghị (2 trang)
  • Luận án có 41 bảng, 20 hình, 3 sơ đồ, 3 biểu đồ.
  • 153 tài liệu tham khảo: 4 tài liệu tiếng Việt, 149 tài liệu tiếng Anh.
  • 5 phụ lục.

Tài liệu liên quan