QUẢN LÝ NƯỚC SẠCH NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Kinh tế phát triển
Luận án "Quản lý nước sạch nông thôn trên địa bàn thành phố Hải Phòng" thuộc ngành Kinh tế phát triển, được thực hiện trong bối cảnh cung cấp nước sạch là mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Tuy nhiên, quản lý nước sạch nông thôn (NSNT) tại Hải Phòng vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại như quy hoạch hệ thống cấp nước dàn trải, chất lượng nước chưa được giám sát chặt chẽ và công tác tuyên truyền chưa thường xuyên, đầy đủ. Mục tiêu chung của nghiên cứu là phân tích thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý NSNT tại Hải Phòng và trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý NSNT trong thời gian tới. Các mục tiêu cụ thể bao gồm hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý NSNT; phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng; và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý NSNT.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các nội dung và yếu tố ảnh hưởng đến quản lý NSNT theo chức năng quản lý nhà nước ở các cấp (Thành phố, huyện, xã) trên địa bàn nông thôn Hải Phòng, với nghiên cứu thực địa chủ yếu tại hai huyện Thủy Nguyên và Tiên Lãng. Dữ liệu được thu thập từ năm 2016 đến 2019. Luận án đóng góp về lý luận bằng cách làm rõ khái niệm NSNT, xác định đầy đủ các nội dung quản lý theo chức năng nhà nước, tổng hợp kinh nghiệm quốc tế và trong nước, đồng thời đề xuất 04 nhóm tiêu chí đánh giá kết quả quản lý (tính hiệu lực, tính bao phủ, tính công bằng và tính bền vững). Về thực tiễn, nghiên cứu mô tả thực trạng, chỉ ra các hạn chế như chủ trương, chính sách chưa nhất quán, thiếu kinh phí và nhân lực, và đề xuất 05 nhóm giải pháp nhằm tăng cường quản lý NSNT.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp nghiên cứu tại bàn, phỏng vấn bán cấu trúc và phỏng vấn sâu với các đối tượng liên quan (cán bộ quản lý, đại diện đơn vị cấp nước, hộ gia đình). Các phương pháp phân tích sử dụng thống kê mô tả, so sánh, đánh giá cho điểm xếp hạng (dựa trên PMS và Balanced Scorecard), đường cong Lorenz và hệ số Gini, cùng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) để xác định mức sẵn lòng chi trả.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, đến năm 2019, 92,1% hộ dân nông thôn Hải Phòng đã tiếp cận và sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn QC02. Tuy nhiên, quản lý NSNT vẫn còn hạn chế: chính sách thiếu nhất quán; sơ đồ tổ chức ở cấp huyện, xã chưa rõ ràng; quy hoạch trước đây dàn trải; quản lý chất lượng còn buông lỏng (45,8% nhà máy chưa đạt cam kết); giá bán chưa đồng đều và công bằng; kiểm tra, giám sát bị động. Đánh giá theo 4 tiêu chí cho thấy tính hiệu lực, tính bao phủ, tính công bằng và tính bền vững của hệ thống còn nhiều hạn chế. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm sự chưa nhất quán của chính sách, thiếu nguồn lực, lồng ghép mục tiêu làm phân tán nguồn lực, tuyên truyền chưa hiệu quả, hiệu quả sản xuất kinh doanh của đơn vị cấp nước chưa đảm bảo, nhận thức và sự hài lòng của người dân còn hạn chế. Luận án đề xuất 05 nhóm giải pháp trọng tâm: bố trí nguồn lực chuyên trách, đẩy mạnh tuyên truyền, hoàn thiện chính sách, giám sát thực hiện quy hoạch/kế hoạch/đầu tư, và tăng cường kiểm tra/giám sát kèm chế tài xử lý các vi phạm. Nghiên cứu cũng đưa ra kiến nghị cụ thể cho chính quyền Thành phố Hải Phòng, các cơ quan quản lý Trung ương và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.