Nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng vạt nhánh xuyên động mạch đùi sâu điều trị loét ụ ngồi và mấu chuyển lớn
Phẫu thuật tạo hình
Luận án này tập trung nghiên cứu về giải phẫu và ứng dụng vạt nhánh xuyên động mạch đùi sâu trong điều trị loét tỳ đè vùng ụ ngồi và mấu chuyển lớn, đặc biệt ở mức độ nặng (độ III, IV) tại Việt Nam. Loét tỳ đè ở các vùng này chiếm 62% tổng số các dạng loét tỳ đè, và các phương pháp điều trị nội khoa thường không giải quyết được các tổn khuyết lộ xương diện rộng. Mục tiêu của nghiên cứu là khảo sát đặc điểm giải phẫu các nhánh xuyên động mạch đùi sâu và đánh giá kết quả sử dụng vạt này để xây dựng quy trình điều trị an toàn, hiệu quả.
Nghiên cứu được thiết kế dưới dạng mô tả, bao gồm khảo sát trên 17 xác phẫu tích (31 vùng đùi sau) và 17 tiêu bản MDCT, cùng với nghiên cứu lâm sàng theo dõi dọc trên 25 bệnh nhân (sử dụng 28 vạt da) bị loét tỳ đè độ III, IV đã được điều trị nội khoa ổn định tại Viện Bỏng Quốc Gia từ năm 2015 đến 2020.
Kết quả giải phẫu cho thấy động mạch đùi sâu có đường kính trung bình 5,32 ± 0,73 mm và chiều dài trung bình 281,47 ± 35,63 mm. Mỗi xác có ít nhất 2 và nhiều nhất 4 nhánh xuyên. Nhánh xuyên I và II được phát hiện với tỷ lệ 100%, có đường kính nhánh xuyên I trung bình 1,43 ± 0,67 mm và chiều dài từ lớp cân ra da gần 20 mm, cung cấp đủ tính linh hoạt cho thiết kế vạt V-Y hoặc cánh quạt. Khoảng cách từ nhánh xuyên I đến mấu chuyển lớn và ụ ngồi là gần nhất so với các nhánh khác, khẳng định ưu thế của nhánh I trong việc che phủ khuyết hổng. Vùng chuẩn đích cho nhánh xuyên I được xác định rõ ràng, giúp phẫu thuật viên dễ dàng định vị trên lâm sàng.
Về đặc điểm lâm sàng, chấn thương cột sống là nguyên nhân bệnh nền phổ biến nhất (46%), và bệnh nhân nam chiếm tỷ lệ cao (80%). Tỷ lệ loét mấu chuyển lớn cao gấp 2,37 lần so với loét ụ ngồi. Thời gian từ lúc loét đến khi nhập viện thường muộn (>3 tháng chiếm 66%), dẫn đến mức độ loét nặng hơn (độ IV gấp 2,4 lần độ III).
Trong điều trị, phần lớn đáy tổn thương được cắt lọc trước phẫu thuật (67,86%). Vạt da cánh quạt được sử dụng chủ yếu (92,86%) và thời gian phẫu thuật thường ngắn (≤ 60 phút chiếm 71,43%). Kích thước khuyết hổng trung bình 51,02 ± 21,98 cm², vạt da trung bình 85,43 ± 35,6 cm².
Kết quả phẫu thuật cho thấy hiệu quả đáng tin cậy: tỷ lệ vạt da sống tốt cao (96,43% ở cả kết quả gần và xa, với 27/28 vạt không tái phát). Một số biến chứng nhỏ được ghi nhận bao gồm máu tụ dưới vạt (3,57%), chèn ép cuống vạt (7,14%) và viêm dò (3,57%).
Nghiên cứu kết luận rằng vạt nhánh xuyên động mạch đùi sâu, đặc biệt là nhánh I, là một lựa chọn ổn định và hiệu quả trong phẫu thuật tạo hình che phủ loét tỳ đè vùng ụ ngồi và mấu chuyển lớn ở người Việt Nam. Tác giả kiến nghị cần tiếp tục nghiên cứu với số mẫu lớn hơn, thời gian theo dõi dài hơn và mở rộng ứng dụng phương pháp này tại các bệnh viện lớn.