PHÂN TÍCH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI LAO ĐỘNG, ĐỊNH HƯỚNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
Kinh tế phát triển (Mã số: 9310105)
Luận án tiến sĩ này tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa đổi mới công nghệ, đổi mới lao động, định hướng kinh doanh và hiệu quả hoạt động của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đồng thời đánh giá vai trò của chính sách phát triển trong mối quan hệ này. Bối cảnh nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết cho các doanh nghiệp phải thay đổi định hướng kinh doanh, đổi mới công nghệ và lao động để tăng khả năng cạnh tranh trong giai đoạn hội nhập và phát triển, đặc biệt trong tình hình bình thường mới sau Covid-19.
Nghiên cứu chỉ ra rằng các công trình trước đây về đổi mới của DNNVV ở các quốc gia mới nổi như Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt là việc đo lường các yếu tố liên quan. Luận án này lấp đầy khoảng trống đó bằng cách sử dụng yếu tố quan hệ khách hàng của doanh nghiệp như một biến nội sinh để tìm hiểu sự chi phối của nó đến ảnh hưởng của đổi mới công nghệ, đổi mới lao động và định hướng kinh doanh lên hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Đồng thời, nghiên cứu cũng phân tích vai trò của chính sách phát triển trong mối quan hệ này, một khía cạnh còn bỏ ngỏ đối với DNNVV vùng ĐBSCL.
Mục tiêu cụ thể của luận án bao gồm xây dựng khung lý thuyết, phân tích tác động của đổi mới công nghệ, đổi mới lao động và định hướng kinh doanh, chỉ ra sự chi phối nội sinh của quan hệ khách hàng, phân tích vai trò chính sách phát triển, và gợi ý các chính sách phù hợp. Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa các yếu tố trên và hiệu quả hoạt động của DNNVV tại 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL, với dữ liệu thu thập trong giai đoạn 2018 và 2020. Phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng mô hình hồi qui mở rộng (ERM).
Kết quả nghiên cứu khẳng định: (i) Đổi mới công nghệ, đổi mới lao động và định hướng kinh doanh có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của DNNVV, trong đó đổi mới công nghệ có vai trò đi đầu; (ii) Quan hệ khách hàng được minh chứng có tính nội sinh, tạo chi phối trong mối quan hệ giữa các yếu tố đổi mới, định hướng kinh doanh và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp; (iii) Sự chi phối của quan hệ khách hàng thể hiện rõ ở các doanh nghiệp không phải tư nhân (nhà nước, liên doanh/hợp tác với nước ngoài có cổ phần trên 50%) và các DNNVV có quy mô lao động lớn hơn 10 người. Ngoài ra, chính sách phát triển của tỉnh, bao gồm chính sách năng động, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và đào tạo lao động, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra mối quan hệ tích cực giữa đổi mới, định hướng kinh doanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Những kết quả này cung cấp cơ sở để đề xuất các chính sách thúc đẩy đổi mới công nghệ, đổi mới lao động, mở rộng mạng lưới quan hệ khách hàng và nâng cao chất lượng quản lý của chính quyền địa phương.