NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG SÂU XANH Helicoverpa armigera (Hübner) (Lepidoptera: Noctuidae) ĐỤC BẮP NGÔ TẠI HÀ NỘI, VIỆT NAM VÀ VIÊNG CHĂN, LÀO
Bảo vệ thực vật
Luận án tiến sĩ này tập trung nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và đề xuất biện pháp phòng chống sâu xanh Helicoverpa armigera (Hübner) gây hại trên cây ngô tại Hà Nội (Việt Nam) và Viêng Chăn (Lào) trong giai đoạn 2017-2019. Ngô (Zea mays L.) là cây lương thực quan trọng toàn cầu và thứ hai sau lúa ở Việt Nam. Tuy nhiên, sâu xanh H. armigera, một loài côn trùng đa thực, thường gây hại nghiêm trọng cho bắp ngô, ảnh hưởng đến mẫu mã và chất lượng sản phẩm.
Mục tiêu chung của đề tài là đề xuất các biện pháp phòng chống sâu xanh hiệu quả kinh tế và thân thiện với môi trường, dựa trên những số liệu nghiên cứu về thành phần sâu hại bộ cánh vảy trên ngô, vị trí số lượng và sự chu chuyển của sâu xanh, cùng với các đặc điểm sinh học và sinh thái của chúng. Các mục tiêu cụ thể bao gồm xác định thành phần loài sâu hại bộ cánh vảy trên ngô tại các địa điểm nghiên cứu, điều tra diễn biến mật độ và sự chu chuyển của sâu xanh, nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học của H. armigera trên cây ngô, và đề xuất biện pháp phòng chống tại Viêng Chăn, Lào.
Những đóng góp mới của luận án bao gồm việc ghi nhận 25 loài sâu hại bộ cánh vảy trên ngô (21 loài tại Viêng Chăn và 13 loài tại Hà Nội), trong đó sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda) là loài mới xuất hiện tại Lào với mức độ phổ biến cao. Đề tài cũng điều tra được 15 loài côn trùng ký sinh sâu cánh vảy, xác định 11 loài vật chủ. Luận án đã cung cấp các dẫn liệu khoa học mới về tổng tích ôn hữu hiệu, ngưỡng khởi điểm phát dục, tỷ lệ tăng tự nhiên, hệ số nhân và thời gian tăng đôi quần thể của H. armigera trên ngô, cùng với hiệu quả của một số biện pháp phòng chống.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trưởng thành sâu xanh chủ yếu vũ hóa vào buổi sáng (6-10 giờ, 52,64%), nhộng hóa sâu trong đất ở độ sâu 2-4 cm (90%). Vòng đời trung bình của sâu xanh là 35,54 ngày ở điều kiện nhiệt độ trung bình 30,1°C và độ ẩm 79,4%. Sức đẻ trứng trung bình đạt 427,55 quả/cái, tỷ lệ nở trung bình 67,3%. Sâu non tuổi 3 bắt đầu có tính cạnh tranh trong loài, và sâu tuổi 4 trở lên có khả năng đục bắp cao. Tổng tích ôn hữu hiệu cho vòng đời là 526,3°C với ngưỡng khởi điểm phát dục là 10,2°C. Thức ăn và nhiệt độ ảnh hưởng đáng kể đến các chỉ tiêu sinh học của sâu xanh. Ngô ngọt là giống hấp dẫn sâu non nhất (37,50%).
Các biện pháp phòng chống đã được đánh giá bao gồm mật độ gieo trồng (mật độ 6,3 cây/m² có mật độ sâu xanh cao hơn) và sử dụng cây dẫn dụ (hoa hướng dương, cúc vạn thọ) làm giảm mật độ sâu xanh. Thuốc hóa học (Senchez 5SC, Thensoo 35EC, Thaiger 40EC) cho hiệu lực cao (84-96%) đối với sâu non tuổi 1-3, trong khi thuốc sinh học (Tas'ieu 5WG, VBTusa WP) có hiệu lực thấp hơn. Luận án đề xuất triển khai nghiên cứu ong ký sinh Cotesia ruficrus và ứng dụng công nghệ sinh thái để phòng chống sâu xanh hại ngô.