NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỘT SỐ DƯỢC CHẤT NHÓM KHÁNG HISTAMIN VÀ ĐIỀU TRỊ TĂNG HẠ HUYẾT ÁP TRỘN TRÁI PHÉP TRONG CHẾ PHẨM CHỨA DƯỢC LIỆU
KIỂM NGHIỆM THUỐC VÀ ĐỘC CHẤT
Luận án này tập trung nghiên cứu vấn đề trộn trái phép các dược chất hóa dược vào chế phẩm chứa dược liệu, một thực trạng phổ biến và gây biến chứng nghiêm trọng do không kiểm soát được liều lượng. Xu hướng sử dụng sản phẩm tự nhiên ngày càng tăng, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng nguy cơ pha trộn nhằm cải thiện tác dụng và rút ngắn thời gian điều trị. Do đó, việc xây dựng bộ công cụ hữu hiệu để xác định các chất hóa dược trộn trái phép trong chế phẩm chứa dược liệu là hết sức cần thiết.
Mục tiêu của luận án là xây dựng các quy trình định tính và định lượng đồng thời các dược chất thuộc nhóm kháng histamin (chlorpheniramin, cyproheptadin, loratadin, cinnarizin, promethazin) và nhóm điều trị tăng huyết áp (amlodipin, felodipin, furosemid, nifedipin) trong chế phẩm chứa dược liệu, sử dụng các phương pháp HPTLC, HPLC và LC-MS/MS. Đồng thời, áp dụng các quy trình này để đánh giá sơ bộ thực trạng trộn trái phép các nhóm dược chất trên trong một số dạng chế phẩm chứa dược liệu lưu hành tại Việt Nam.
Nghiên cứu đã thành công trong việc xây dựng và thẩm định 01 quy trình định tính bằng HPTLC và 02 quy trình định tính, định lượng bằng HPLC, LC-MS/MS cho 5 dược chất kháng histamin, cũng như 01 quy trình định tính bằng HPTLC và 02 quy trình định tính, định lượng bằng HPLC, LC-MS/MS cho 4 dược chất điều trị tăng huyết áp. Các phương pháp này được thực hiện với kỹ thuật xử lý mẫu đơn giản, dung môi chiết dễ kiếm và điều kiện sắc ký phổ biến, đảm bảo độ nhạy, độ đặc hiệu, khoảng tuyến tính, độ thu hồi và độ chính xác theo yêu cầu của AOAC 2016. Tất cả 06 phương pháp phân tích đã được thẩm định độc lập tại phòng thí nghiệm đạt chuẩn ISO IEC 17025.
Ứng dụng các quy trình đã xây dựng trên 55 mẫu chế phẩm điều trị dị ứng, mẩn ngứa, cảm cúm và 56 mẫu chế phẩm điều trị tăng huyết áp thu thập trên thị trường. Kết quả cho thấy 12/55 mẫu (chiếm 21,8%) dương tính với 1-3 chất kháng histamin, chủ yếu là clorpheniramin, với hàm lượng từ 0,2 – 3,1 mg/g. Các mẫu dương tính này chủ yếu được đặt mua online hoặc do người dùng nghi ngờ gửi tới. Đối với nhóm điều trị tăng huyết áp, không phát hiện mẫu nào dương tính trong 56 mẫu phân tích. Luận án cũng đã xây dựng thành công 2 nền mẫu chứa dược liệu dạng lỏng và rắn đại diện, dựa trên các bài thuốc cổ truyền và các chế phẩm có thị phần lớn, phục vụ cho việc xây dựng và thẩm định phương pháp phân tích.