Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
Không được cung cấp trong văn bản.
Không được cung cấp trong văn bản.
Tài liệu này trình bày về phình động mạch chủ ngực (ĐMCN), được định nghĩa là khi kích thước tăng hơn 1,5 lần so với kích thước bình thường của động mạch chủ ngực. Đối với các trường hợp phình ĐMCN có kích thước nhỏ (đường kính dưới 4 cm), không có các yếu tố nguy cơ cao và chưa có biến chứng, điều trị nội khoa và theo dõi được chỉ định nhằm kiểm soát và duy trì huyết áp mục tiêu.
Về mặt can thiệp, phương pháp TEVAR (can thiệp nội mạch động mạch chủ) được quyết định dựa trên từng cá thể bệnh nhân, có tính đến giải phẫu, bệnh học, bệnh lý đi kèm và tiên lượng lâu dài, thông qua tiếp cận đa chuyên khoa. TEVAR yêu cầu ít nhất 20 mm vùng hạ đặt (landing zone) để đảm bảo kết quả tốt và an toàn, đồng thời cần oversize ít nhất 10-15% của vùng động mạch chủ tương ứng. Dẫn lưu dịch não tủy dự phòng được khuyến cáo ở các bệnh nhân có nguy cơ cao, theo Raimund E. và cộng sự (2014). Về mặt can thiệp nội mạch, ĐMCN có thể được chia thành 5 vùng khác nhau theo vị trí vùng hạ đặt từ Z0 đến Z4.
Các nghiên cứu lớn về can thiệp nội mạch ĐMC ngực đã có từ những năm đầu của thế kỷ 21 và số lượng ngày càng tăng. Kích thước động mạch được dựng hình đa mặt phẳng (MPR) để đảm bảo các mặt cắt đều vuông góc với động mạch chủ, tránh sai lệch trong đo đạc. Một nghiên cứu đã được thực hiện từ tháng 08/2013 đến tháng 10/2019 với 80 bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn. Các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bao gồm tuổi, giới tính và tiền sử bệnh như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipid và đột quỵ não cũ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phẫu thuật chuyển vị các nhánh động mạch trong nhóm nghiên cứu khá cao (43 trường hợp, chiếm 53,75%), với chuyển vị động mạch cảnh chung phải - cảnh chung trái - dưới đòn trái chiếm tỉ lệ cao nhất. Tỷ lệ thành công về mặt kỹ thuật của can thiệp là 95%, tương đồng với các tác giả trên thế giới (hầu hết là trên 90%), cho thấy can thiệp nội mạch động mạch chủ là phương pháp hiệu quả. Đường kính túi phình trung bình của nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu là 64,16 mm, phù hợp với chỉ định can thiệp ĐMC ngực của Hiệp hội Tim mạch châu Âu. Đường kính túi phình giảm dần theo thời gian (sau 3 tháng là 60,39 mm, sau 3 năm là 54,05 mm). Phình động mạch chủ dạng thoi có tỉ lệ thấp hơn so với phình dạng túi (38,75% và 61,25%). Vị trí hay gặp TAAs là vùng Z2 và Z3 với 66,25%. Các yếu tố ảnh hưởng đến tử vong muộn bao gồm tăng huyết áp. Nghiên cứu ghi nhận 9 trường hợp tử vong trung hạn, trong đó 2 trường hợp do can thiệp nội mạch và 7 trường hợp do các nguyên nhân khác như nhiễm trùng đường niệu, suy kiệt, ung thư và suy thận.
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên