NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHẪU THUẬT NỘI SOI SAU PHÚC MẠC ĐIỀU TRỊ HẸP KHÚC NỐI BỂ THẬN
Thông tin về ngành cụ thể không được nêu rõ trong văn bản.
Luận án này tập trung vào nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi sau phúc mạc để điều trị hẹp khúc nối bể thận niệu quản (UPJO), một bệnh lý bẩm sinh phổ biến gây ứ nước thận ở trẻ em. Với sự tiến bộ của chẩn đoán trước sinh, bệnh lý này ngày càng được phát hiện và can thiệp sớm. Phẫu thuật Anderson-Hynes là phương pháp tạo hình được xem là tiêu chuẩn vàng.
Nghiên cứu đã được thực hiện trên 70 bệnh nhi dưới 5 tuổi tại Học viện Quân y từ tháng 1/2011 đến tháng 6/2013, sử dụng phương pháp phẫu thuật nội soi hỗ trợ sau phúc mạc 1 trocar. Đối tượng nghiên cứu bao gồm bệnh nhi từ sơ sinh đến dưới 5 tuổi, không phân biệt giới tính, có đường kính bể thận trước sau trên 20mm, có tắc nghẽn tại khúc nối và chức năng thận bị ảnh hưởng, hoặc tình trạng ứ nước thận không cải thiện/nặng hơn. Các trường hợp có bể thận giãn to trên 50mm hoặc chức năng thận dưới 20% trên xạ hình thận, hoặc gia đình không đồng ý phẫu thuật bị loại trừ. Thiết kế nghiên cứu là mô tả tiến cứu có can thiệp, đánh giá tỷ lệ thành công của phẫu thuật. Các thăm dò chẩn đoán bao gồm siêu âm, UIV, xạ hình thận, chụp bàng quang niệu đạo ngược dòng và MRI hệ tiết niệu. Quy trình phẫu thuật bao gồm rạch da, tạo khoang sau phúc mạc, đặt trocar, phẫu tích khúc nối, đưa khúc nối ra ngoài thành bụng để tạo hình.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình của bệnh nhân là 22,6 ± 18,6 tháng, với đa số là trẻ nam (65/70) và ưu thế bệnh lý ở thận trái (48/70). Chức năng thận trước mổ trên xạ hình cho thấy không có đường cong bài xuất bình thường, chủ yếu là dạng tích lũy (64,29%) hoặc chậm bài tiết (35,71%). Trong số 70 bệnh nhân, 2 trường hợp phải chuyển sang mổ mở. Thời gian nằm viện trung bình là 3,7 ± 2,6 ngày, với 85,29% bệnh nhân có diễn biến sau mổ bình thường. Các biến chứng như sốt, đái máu, hoặc nhiễm khuẩn tiết niệu được ghi nhận ở một số ít trường hợp.
Đánh giá kết quả xa sau mổ (6 tháng - 1 năm) trên 51 bệnh nhân cho thấy sự cải thiện rõ rệt. Siêu âm cho thấy độ dày nhu mô thận tăng đáng kể từ 4,1±1mm lên 7,8±1,7mm (p<0,05). Chụp UIV trên 20 bệnh nhân cho thấy 16/20 trường hợp giãn thận cải thiện xuống độ 1. Xạ hình thận trên 32 bệnh nhân (26 có dữ liệu trước và sau mổ) ghi nhận chức năng thận trung bình sau mổ là 51,2±5,9%, không có bệnh nhân nào chức năng thận dưới 40%. Các chỉ số về kích thước bể thận, độ dày nhu mô và Tmax trên xạ hình thận đều có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trước và sau mổ (p<0,05).
Luận án kết luận rằng phẫu thuật nội soi hỗ trợ sau phúc mạc 1 trocar là một lựa chọn hiệu quả cho điều trị hẹp khúc nối bể thận niệu quản ở trẻ dưới 5 tuổi, mang lại kết quả tốt về cả giải phẫu và chức năng thận với thời gian nằm viện ngắn.