info@luanan.net.vn
VIP Luận án PDF

Luận án Nghiên cứu thành phần loài nấm lớn thuộc ngành Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota ở núi Ngọc Linh, Tỉnh Quảng Nam

Năm2018
Lĩnh vựcKhoa học tự nhiên
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh
Xem trước tài liệu
Đang tải...

Đang tải tài liệu...

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI NẤM LỚN THUỘC NGÀNH MYXOMYCOTA, ASCOMYCOTA, BASIDIOMYCOTA Ở NÚI NGỌC LINH, TỈNH QUẢNG NAM

Ngành:

Thực vật học

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án "Nghiên cứu thành phần loài nấm lớn thuộc ngành Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota ở núi Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam" được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống trong nghiên cứu khu hệ nấm lớn tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam, đặc biệt là tại núi Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam – một khu vực chưa từng được nghiên cứu về nấm. Nấm lớn có vai trò quan trọng trong thực tiễn, từ nguồn thực phẩm, dược liệu đến đối tượng nghiên cứu khoa học, đồng thời cũng có những loài gây hại hoặc độc.

Mục tiêu chính của luận án là xây dựng bảng danh lục thành phần loài nấm lớn, đánh giá tính đa dạng và giá trị tài nguyên của chúng, cũng như xây dựng khóa định loại ở các cấp độ ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài. Đây là lần đầu tiên công trình này thực hiện các hoạt động trên cho khu hệ nấm tại núi Ngọc Linh, góp phần bảo vệ sự đa dạng sinh học và nguồn gen quý hiếm.

Kết quả nghiên cứu đã xác định được tổng cộng 300 loài, 121 chi, 48 họ, 21 bộ và 7 lớp thuộc ba ngành Myxomycota, Ascomycota và Basidiomycota. Trong đó, ngành Basidiomycota chiếm ưu thế vượt trội với 282 loài (94%), bao gồm 3 lớp, 14 bộ, 39 họ và 108 chi. Lớp Agaricomycetes, bộ Polyporales, họ Polyporaceae và chi Ganoderma là những nhóm đa dạng nhất trong khu vực nghiên cứu. Luận án cũng đã ghi nhận 3 chi mới (Sowerbyella, Pithya, Disciseda) và 12 loài mới cho khu hệ nấm lớn Việt Nam.

Về đa dạng phương thức sống, nấm hoại sinh chiếm tỷ lệ lớn nhất với 204 loài (68%). Đa dạng về yếu tố địa lý cho thấy yếu tố nhiệt đới là đa dạng nhất với 101 loài (33,67%). Giá trị tài nguyên của nấm được phân loại rõ ràng: 58 loài nấm ăn, 57 loài nấm dược liệu, 31 loài nấm độc, 3 loài nấm trang trí, 3 loài dùng nghiên cứu và 2 loài quý hiếm. Đặc biệt, 149 loài (49,67%) có tiềm năng ứng dụng trong bảo vệ môi trường. Các khóa định loại cho ba ngành Myxomycota, Ascomycota và Basidiomycota đã được xây dựng, từ cấp lớp đến cấp bộ, hỗ trợ công tác định danh trong tương lai. Luận án cũng mô tả chi tiết đặc điểm sinh học của 3 chi và 12 loài mới ghi nhận, cùng một số loài có giá trị.

Tài liệu liên quan