NGHIÊN CỨU TẠO HÌNH VẬT XỐP TRONG ĐIỀU TRỊ DỊ TẬT MIỆNG NIỆU ĐẠO THẤP Ở TRẺ EM
Ngoại thận và tiết niệu
Dị tật miệng niệu đạo thấp (MNĐT) là một bất thường bẩm sinh phổ biến ở trẻ trai, thường kèm theo miệng niệu đạo lạc chỗ, cong dương vật và thiếu da vùng bụng. Các phương pháp điều trị hiện tại, như khâu gấp bao trắng vùng lưng để sửa tật cong nhẹ, có thể gây ra các nhược điểm như làm ngắn dương vật, cong tái phát hoặc tê quy đầu. Ngoài ra, tỉ lệ rò niệu đạo sau phẫu thuật vẫn còn cao (10-20%), bất chấp việc sử dụng các nguồn mô kế cận để che phủ ống niệu đạo mới.
Để khắc phục những hạn chế này, kỹ thuật tạo hình vật xốp, được Beaudoin và Yerkes giới thiệu năm 2000, đã mở ra hướng đi mới trong việc tái tạo niệu đạo gần cấu trúc giải phẫu bình thường, giảm tỉ lệ rò niệu đạo và sửa tật cong dương vật nhẹ. Luận án này được thực hiện nhằm nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật tạo hình vật xốp trong phẫu thuật MNĐT ở trẻ em Việt Nam.
Mục tiêu chính của nghiên cứu là phân tích đặc điểm hình thái dị tật và quá trình phẫu thuật ở nhóm bệnh nhi, đồng thời đánh giá kết quả và các biến chứng sau phẫu thuật sử dụng kỹ thuật tạo hình vật xốp. Đây là nghiên cứu can thiệp không nhóm chứng đầu tiên tại Việt Nam về kỹ thuật này, với đóng góp mới là chứng minh hiệu quả trong việc hạn chế rò niệu đạo và sửa tật cong dương vật thể nhẹ mà không cần khâu gấp bao trắng. Kỹ thuật này được đánh giá là đơn giản và có tiềm năng ứng dụng rộng rãi cho các trường hợp MNĐT thể thân dương vật gần gốc, xa gốc hoặc thể giữa.
Nghiên cứu được thực hiện trên 122 bệnh nhi MNĐT thể giữa có cong dương vật nhẹ tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 01/12/2016 đến 31/3/2019. Kết quả cho thấy tuổi trung vị của bệnh nhi là 3 tuổi. Nhóm MNĐT thân dương vật gần gốc chiếm đa số (59%). Tình trạng quy đầu nhỏ (34,4%) và mô vật xốp "kém phát triển" (45,9%) được ghi nhận. Kỹ thuật tạo hình vật xốp đã sửa được độ cong dương vật trung bình 14,1 ± 2,4°, đưa độ cong sau mổ về 3,9 ± 1,4°, được coi là chấp nhận được. Kết quả phẫu thuật "tốt" đạt 91,8%, trong khi 8,2% trường hợp có kết quả "kém" do rò niệu đạo (6,6%) hoặc tụt miệng niệu đạo (1,6%), cần phẫu thuật lại. Biến chứng trên niệu đạo có liên quan đáng kể đến tình trạng quy đầu nhỏ và mô vật xốp "kém phát triển".
Luận án kết luận rằng kỹ thuật tạo hình vật xốp có hiệu quả trong sửa tật cong dương vật nhẹ và hạn chế rò niệu đạo bằng cách cung cấp lớp che phủ có mạch máu nuôi tốt, giúp tái tạo niệu đạo gần cấu trúc giải phẫu bình thường. Kiến nghị áp dụng kỹ thuật này trong phẫu thuật MNĐT thể xa gốc và gần gốc dương vật có cong dương vật nhẹ để tối ưu hóa kết quả điều trị.
Luận án gồm có 129 trang với bố cục như sau:
Ngoài ra, luận án còn có 45 bảng, 21 biểu đồ, 1 sơ đồ, 51 hình và 124 tài liệu tham khảo (27 tiếng Việt, 107 tiếng nước ngoài).
Các chương và phần chính được trình bày trong tài liệu bao gồm: