info@luanan.net.vn
Luận án DOCX

Luận án Nghiên cứu tạo giống gốc và thử nghiệm sản xuất vacxin vô hoạt phòng hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn từ chủng virus phân lập tại Việt Nam.

Năm2018
Lĩnh vựcNông - Lâm - Ngư
Ngôn ngữTiếng Việt

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU TẠO GIỐNG GỐC VÀ THỬ NGHIỆM SẢN XUẤT VACXIN VÔ HOẠT PHÒNG HỘI CHỨNG RỐI LOẠN SINH SẢN VÀ HÔ HẤP Ở LỢN TỪ CHỦNG VIRUS PHÂN LẬP TẠI VIỆT NAM

Ngành:

Bệnh lý học và chữa bệnh vật nuôi

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Hội chứng Rối loạn Sinh sản và Hô hấp ở lợn (PRRS), hay bệnh tai xanh, là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do virus PRRS gây ra, đặc trưng bởi các rối loạn sinh sản ở lợn nái và vấn đề hô hấp ở lợn con, gây thiệt hại kinh tế lớn cho ngành chăn nuôi. Sự đa dạng di truyền và biến đổi kháng nguyên của virus PRRSV là trở ngại trong việc phát triển vắc xin hiệu quả. Các vắc xin sống được sử dụng phổ biến nhưng có quan ngại về sự an toàn do khả năng hồi phục độc lực, trong khi vắc xin ngoại nhập tốn kém và hiệu quả chưa như mong muốn.

Đề tài này tập trung vào việc tạo giống gốc và sản xuất thử nghiệm vắc xin vô hoạt phòng PRRS từ chủng virus phân lập tại Việt Nam, nhằm chủ động nguồn cung vắc xin an toàn, hiệu quả và giảm chi phí nhập khẩu.

Nghiên cứu đã xác định 33 ca bệnh dương tính với PRRSV từ 57 mẫu thu thập, ghi nhận các bệnh tích đại thể và vi thể điển hình ở phổi và hạch lympho như viêm và xuất huyết. Từ các mẫu này, 33 chủng virus PRRSV đã được phân lập và 03 chủng (KTY-PRRS-01, KTY-PRRS-02, KTY-PRRS-03) được tuyển chọn dựa trên khả năng thích ứng tốt với môi trường tế bào MARC-145 và sự ổn định về đặc tính sinh học, sinh học phân tử qua 5 đời cấy chuyển. Chủng KTY-PRRS-01 được đánh giá là tiềm năng nhất để làm giống gốc sản xuất vắc xin vô hoạt.

Tiếp theo, đề tài đã sản xuất thành công 3 lít giống gốc PRRSV, được chia nhỏ, đông khô và kiểm tra đạt các tiêu chí về vô trùng, thuần khiết theo tiêu chuẩn sản xuất vắc xin. Quy trình sản xuất thử nghiệm 3 lô vắc xin vô hoạt nhũ dầu phòng PRRS từ giống gốc đã được nghiên cứu và kiểm nghiệm, cho thấy vắc xin đạt yêu cầu về an toàn, vô trùng và có hiệu lực tốt. Cụ thể, vắc xin sau khi cô đặc có hiệu giá virus tăng 1 lg (đạt 4,0 x 107 TCID50/ml) và nồng độ formalin 0,03% được xác định là thích hợp nhất cho quá trình vô hoạt. Chất bổ trợ dầu khoáng cho đáp ứng miễn dịch cao nhất.

Kết quả nghiên cứu này góp phần nâng cao năng lực sản xuất vắc xin vật nuôi trong nước, cung cấp thông tin quý giá về đặc điểm sinh học và di truyền của các chủng virus PRRSV lưu hành tại Việt Nam. Đề tài cũng đưa ra kiến nghị nghiên cứu thêm về thời gian bảo hộ miễn dịch và theo dõi biến động di truyền của virus PRRSV để tối ưu hóa hiệu quả vắc xin.

Tài liệu liên quan