Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
NGHIÊN CỨU SỨC CĂNG CƠ TIM BẰNG PHƯƠNG PHÁP SIÊU ÂM TIM ĐÁNH DẤU MÔ (SPECKLE TRACKING) TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH TRONG HỘI CHỨNG VÀNH CẤP KHÔNG ST CHÊNH LÊN
Y học
Luận án "Nghiên cứu sức căng cơ tim bằng phương pháp siêu âm tim đánh dấu mô (Speckle Tracking) trước và sau can thiệp động mạch vành trong hội chứng vành cấp không ST chênh lên" của Trịnh Việt Hà tập trung vào việc đánh giá chức năng cơ tim trong Hội chứng vành cấp (HCVC) không ST chênh lên. Đề tài xuất phát từ thực tế rối loạn chức năng co bóp cơ tim xảy ra sớm trong HCVC, trước cả các biến đổi điện tim hay men tim. Siêu âm tim đánh dấu mô (STE), đặc biệt là chỉ số sức căng dọc toàn bộ thất trái (GLS), được nhận định là phương pháp khách quan, có khả năng phát hiện sớm suy chức năng tim. Tuy nhiên, các nghiên cứu về thay đổi sức căng sau can thiệp động mạch vành (ĐMV) và khả năng dự báo biến cố tim mạch còn hạn chế.
Mục tiêu chính của luận án là nghiên cứu sự thay đổi sức căng cơ tim bằng STE sau can thiệp ĐMV và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân HCVC không ST chênh lên, đồng thời đánh giá mối liên quan giữa sức căng cơ tim và các biến cố tim mạch chính trong 6 tháng theo dõi.
Kết quả nghiên cứu trên 125 bệnh nhân cho thấy, các thông số sức căng cơ tim toàn bộ (GLS, GCS, GRS) và tốc độ căng dọc tâm thu (GLSRs) cải thiện rõ rệt và sớm sau can thiệp ĐMV (trong vòng 48 giờ và 30 ngày), trong khi các thông số siêu âm tim thường quy như phân số tống máu (EF) không có biến đổi ý nghĩa thống kê. Đặc biệt, sức căng cơ tim cải thiện rõ ràng ở bệnh nhân được can thiệp động mạch liên thất trước (ĐMLTT), với sức căng đỉnh tâm thu theo chiều dọc của vùng cơ tim được tưới máu bởi ĐMLTT cải thiện đáng kể. Can thiệp ĐMV thủ phạm là ĐMLTT hoặc ĐM mũ có khả năng cải thiện GLS.
Luận án cũng chỉ ra rằng GLS sau can thiệp ĐMV có giá trị dự báo độc lập các biến cố tim mạch chính trong 6 tháng (bao gồm tử vong, nhồi máu cơ tim tái phát, tai biến mạch não, suy tim), với tỷ lệ biến cố là 15,2%. Giá trị cắt-off của GLS là -15,45% có độ nhạy 85% và độ đặc hiệu 90%, với diện tích dưới đường cong (AUC) là 0,945, cao hơn so với EF và điểm GRACE.
Từ đó, luận án đề xuất việc sử dụng thường quy siêu âm tim đánh dấu mô 2D, đặc biệt là các thông số sức căng toàn bộ như GLS, GLSRs, GCS, để đánh giá sớm chức năng tim và tiên lượng biến cố tim mạch chính ở bệnh nhân HCVC không ST chênh lên sau can thiệp ĐMV.
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên