NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI MỘT SỐ CHỈ TIÊU MIỄN DỊCH VÀ NỒNG ĐỘ DIOXIN Ở NẠN NHÂN CHẤT DA CAM/ DIOXIN SAU ĐIỀU TRỊ BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIẢI ĐỘC KHÔNG ĐẶC HIỆU
Y HỌC DỰ PHÒNG
Luận án tập trung nghiên cứu về sự biến đổi của các chỉ tiêu miễn dịch và nồng độ dioxin ở các nạn nhân chất da cam/dioxin tại Việt Nam, đặc biệt là khu vực Đà Nẵng, sau khi áp dụng phương pháp giải độc không đặc hiệu theo nguyên lý của Hubbard. Bối cảnh nghiên cứu xuất phát từ thực trạng còn một số lượng lớn nạn nhân chất độc hóa học trong chiến tranh, nhưng chưa có các nghiên cứu toàn diện về biến đổi miễn dịch gắn với điều trị giải độc và đánh giá sự biến động nồng độ dioxin trong cơ thể.
Mục tiêu chính của đề tài là nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu miễn dịch và nồng độ dioxin ở người phơi nhiễm trước và sau khi áp dụng phương pháp giải độc Hubbard, đồng thời đánh giá mối tương quan giữa sự biến đổi nồng độ dioxin trong máu và phân với các chỉ tiêu miễn dịch. Phương pháp nghiên cứu là hồi cứu, mô tả cắt ngang, tiến cứu, có can thiệp, với 34 đối tượng được thu dung điều trị tại Bệnh viện Quân y 103.
Điểm mới và ý nghĩa khoa học của luận án là lần đầu tiên tại Việt Nam, nồng độ dioxin và đương lượng độc được phân tích tại trung tâm Eurofins - CHLB Đức trước, trong và sau giải độc, cung cấp bằng chứng xác đáng về sự thâm nhiễm dioxin. Luận án đặc biệt chú trọng đến sự biến đổi miễn dịch gắn với sự thay đổi nồng độ dioxin. Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy tác dụng giải độc dioxin của phương pháp Hubbard, góp phần gợi mở hướng điều trị cho những người phơi nhiễm.
Các phát hiện chính bao gồm: 100% đối tượng nghiên cứu đều có 2,3,7,8-Tetra-CDD trong máu. Sau điều trị, nồng độ 2,3,7,8-Tetra CDD và nhiều đồng phân PCDD, PCDF khác trong máu giảm có ý nghĩa thống kê (p<0,05 hoặc p từ 0,01-0,001). Tổng đương lượng độc (TEQ) theo WHO 1998 và 2005 cũng giảm đáng kể (p < 0,001). Nồng độ dioxin trong phân xuất hiện và có xu hướng đào thải ra ngoài theo phân. Về chỉ tiêu miễn dịch, nồng độ IgA, IgG, IgM huyết thanh đều tăng đáng kể sau giải độc (p<0,01 hoặc p<0,001). Tỷ lệ gầy và hơi gầy giảm, tỷ lệ có chỉ số BMI bình thường tăng từ 50% lên 58,82% sau điều trị. Các chỉ số sinh hóa máu, huyết học và enzyme gan không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trước và sau điều trị.