info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu một số kháng nguyên phù hợp tổ chức (HLA) và hiệu quả điều trị viêm khớp vảy nến bằng methotrexate tại bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh

Năm2018
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ KHÁNG NGUYÊN PHÙ HỢP TỔ CHỨC (HLA) VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM KHỚP VẢY NẾN BẰNG METHOTREXAT TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành:

Nội chung

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tập trung nghiên cứu viêm khớp vảy nến (VKVN), một thể lâm sàng nặng của bệnh vảy nến (VN), chiếm tỷ lệ 6-42% bệnh vảy nến và 0.1-0.25% dân số chung. Bệnh biểu hiện lâm sàng đa dạng như sưng đau, cứng khớp, viêm điểm bám gân, và có thể gây biến dạng khớp (40-60%), ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống. Sinh bệnh học của VKVN chưa được hiểu rõ hoàn toàn, nhưng có liên quan đến yếu tố di truyền và cơ chế tự miễn, với các kháng nguyên HLA-B27, HLA-Cw06, HLA-DR7 được xác định có mối liên quan. Methotrexat (MTX) hiện là tiêu chuẩn vàng trong điều trị VN nói chung và VKVN nói riêng.

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 1/2016 đến 3/2017 trên 42 bệnh nhân VKVN, nhằm ba mục tiêu chính: khảo sát các yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng của VKVN; xác định tỷ lệ HLA-B27, HLA-Cw06, HLA-DR7 và mối liên quan với lâm sàng VKVN; và đánh giá hiệu quả điều trị VKVN bằng MTX.

Kết quả cho thấy VKVN đa số là nữ (64.3%), tuổi khởi phát trung bình là 45.8 ± 12.8 tuổi. Biểu hiện vảy nến da khởi phát trước chiếm tỷ lệ cao (76.2%). Về đặc điểm lâm sàng, viêm khớp ngoại vi là vị trí tổn thương phổ biến (81%), trong đó viêm khớp liên đốt ngón xa chiếm 35.7%. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nam giới và những bệnh nhân có biểu hiện viêm khớp là dấu hiệu khởi phát đầu tiên có nguy cơ biến dạng khớp cao hơn (OR lần lượt là 4.3 và 9.3). Thời gian viêm khớp kéo dài cũng làm tăng nguy cơ biến dạng khớp.

Đối với kháng nguyên phù hợp tổ chức (HLA), tỷ lệ HLA-B27 (+) trong VKVN là 32.5%, HLA-Cw06 (+) là 18.9%, và HLA-DR7 (+) là 32.5%. Người có HLA-B27 (+) có nguy cơ mắc VKVN cao hơn người khỏe (RR = 1.6) và có chỉ số DAS28 cao hơn, cho thấy mức độ bệnh nặng hơn. Ngược lại, VKVN có HLA-DR7 (+) có mối liên quan đến thời gian chuyển từ vảy nến da sang VKVN kéo dài hơn, gợi ý vai trò bảo vệ.

Về hiệu quả điều trị bằng Methotrexat, sau 12 tuần, 40.5% bệnh nhân đạt PASI 50 và 24.3% đạt PASI 75 đối với tổn thương da. Mức độ hoạt động của bệnh khớp giảm đáng kể, với ΔDAS28 trung bình là -1.43 ± 0.79, và 37.8% bệnh nhân lui bệnh hoàn toàn theo tiêu chuẩn EULAR. Bệnh nhân có HLA-B27 (+) cho thấy đáp ứng điều trị MTX tốt hơn so với nhóm HLA-B27 (-). MTX được dung nạp tốt với các tác dụng phụ lâm sàng như nôn/buồn nôn (8.1%), mệt mỏi, rụng tóc (2.7%) thường nhẹ, thoáng qua. Các tác dụng phụ cận lâm sàng như tăng men SGPT, giảm Hemoglobin và giảm bạch cầu (đều 2.7%) cũng được ghi nhận nhưng vẫn trong ngưỡng an toàn để tiếp tục điều trị.

Luận án kiến nghị tầm soát HLA-B27, HLA-Cw06, HLA-DR7 trên tất cả bệnh nhân vảy nến thể thông thường để theo dõi biến chứng khớp, quản lý và tiên lượng bệnh, đồng thời khuyến cáo sử dụng Methotrexat trong điều trị VKVN do hiệu quả cao, dung nạp tốt và ít tác dụng phụ.

Mục lục chi tiết:

  • Đặt vấn đề: 2 trang
  • Tổng quan: 44 trang
  • Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 20 trang
  • Kết quả: 30 trang
  • Bàn luận: 40 trang
  • Kết luận: 2 trang
  • Kiến nghị: 1 trang

Tài liệu liên quan