NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KĨ THUẬT CANH TÁC CÓ HIỆU QUẢ CHO LÚA THUẦN TRÊN ĐẤT XÁM BẠC MÀU BẮC GIANG
Khoa học cây trồng (Mã số: 9. 62. 01. 10)
Luận án "Nghiên cứu một số biện pháp kĩ thuật canh tác có hiệu quả cho lúa thuần trên đất xám bạc màu Bắc Giang" tập trung giải quyết vấn đề hiệu quả sản xuất lúa trên đất xám bạc màu tại tỉnh Bắc Giang, đặc biệt là huyện Hiệp Hòa. Đây là vùng có diện tích đất xám bạc màu lớn, nơi canh tác lúa của người dân chủ yếu theo thói quen và kinh nghiệm, dẫn đến nhiều hạn chế như mật độ cấy chưa hợp lý, bón phân không cân đối, và chất lượng đất suy giảm. Thực trạng này kìm hãm năng suất và giá thành sản xuất lúa cao.
Mục tiêu của đề tài là xác định cơ cấu cây trồng có hiệu quả, lựa chọn các giống lúa thuần có hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với điều kiện sản xuất trên đất xám bạc màu (giống KD18 và BC15 được tái khẳng định/lựa chọn), và xác định mật độ cấy cùng liều lượng phân bón phù hợp nhằm giảm chi phí sản xuất lúa thuần trên đất xám bạc màu. Luận án đã đóng góp vào cơ sở khoa học về khả năng thích ứng của giống lúa thuần trên loại đất này và cung cấp tư liệu cho việc xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác cho các giống lúa mới.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng các biện pháp canh tác tổng hợp đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Cụ thể, mật độ cấy 30 khóm/m² với khoảng cách 20 cm x 16,7 cm được xác định là tối ưu cho năng suất cao, hạn chế sâu bệnh, tiết kiệm giống và công lao động. Việc bổ sung các nguồn hữu cơ (phân chuồng, phế phụ phẩm nông nghiệp) không những tăng năng suất mà còn cải thiện độ phì nhiêu đất. Đối với giống KD18, lượng phân hóa học hợp lý trên nền 10 tấn phân chuồng/ha là 90 kg N + 60 kg P2O5 + 100 kg K2O cho vụ xuân và 80 kg N + 60 kg P2O5 + 90 kg K2O cho vụ mùa. Với giống BC15, là 110 kg N + 80 kg P2O5 + 120 kg K2O cho vụ xuân và 100 kg N + 70 kg P2O5 + 110 kg K2O cho vụ mùa.
Mô hình trình diễn áp dụng các quy trình kỹ thuật này tại Hiệp Hòa, Yên Dũng, Tân Yên đã cho thấy năng suất lúa KD18 tăng trung bình 12,7% (vụ xuân) và 8,5% (vụ mùa) so với đối chứng. Đối với giống BC15, năng suất tăng trung bình 13,5% (vụ xuân) và 16,6% (vụ mùa). Luận án đề nghị mở rộng diện tích áp dụng các biện pháp này để sản xuất lúa hiệu quả, bền vững, đồng thời tiếp tục nghiên cứu các loại cây vụ đông phù hợp và trên các chân đất khác (chân cao, chân trũng) hiện có ở Bắc Giang.
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
3.1. Ý nghĩa khoa học
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu
4.2. Phạm vi nghiên cứu
5. Những đóng góp mới của luận án
1.1. Đặc điểm về khí hậu, đất vùng thực hiện đề tài
1.1.1. Đặc điểm khí hậu
1.1.2. Đặc điểm đất vùng nghiên cứu
1.2. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1. Tình hình sản xuất gạo trên thế giới
1.2.2. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
1.2.3. Diện tích, năng suất, sản lượng lúa những năm gần đây ở Hiệp Hòa
1.3. Cơ sở khoa học và những nghiên cứu về giống lúa
1.3.1. Vai trò của giống mới
1.3.2. Những kết quả đạt được trong công tác nghiên cứu và chọn giống
1.3.2.1. Trên thế giới
1.3.2.2. Ở Việt Nam
1.4. Cơ sở khoa học và những nghiên cứu về mật độ gieo cấy lúa
1.4.1. Cơ sở khoa học về mật độ gieo cấy lúa
1.4.2. Những nghiên cứu về mật độ gieo, cấy lúa
1.4.2.1. Một số nghiên cứu về mật độ gieo cấy lúa trên thế giới
1.4.2.2. Một số nghiên cứu về mật độ gieo, cấy lúa ở Việt Nam
1.5. Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa và phân bón cho lúa
1.5.1. Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa
1.5.2. Phân bón cho lúa
1.6. Một số kết luận rút ra từ tổng quan
2.1. Vật liệu nghiên cứu
2.2. Nội dung nghiên cứu
2.2.1. Đánh giá thực trạng sản xuất lúa trên đất xám bạc màu Bắc Giang.
2.2.2. Nghiên cứu tuyển chọn giống lúa thuần trên đất xám bạc màu tại Hiệp Hòa - Bắc Giang.
2.2.3. Nghiên cứu một số biện pháp kĩ thuật canh tác lúa trên đất xám bạc màu tại Hiệp Hòa - Bắc Giang: Mật độ cấy, liều lượng phân bón.
2.2.4. Xây dựng mô hình trình diễn áp dụng một số biện pháp kĩ thuật canh tác có hiệu quả cho lúa thuần trên đất xám bạc màu Bắc Giang
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Nội dung 1: Đánh giá thực trạng sản xuất lúa trên đất xám bạc màu Bắc Giang:
2.3.2. Nội dung 2: Nghiên cứu tuyển chọn giống lúa thuần trên đất xám bạc màu tại Hiệp Hòa - Bắc Giang.
2.3.3. Nội dung 3: Nghiên cứu một số biện pháp kĩ thuật canh tác lúa thuần trên đất xám bạc màu tại Hiệp Hòa - Bắc Giang:
3.1. Thực trạng sản xuất lúa trên đất xám bạc màu ở Hiệp Hòa, Bắc Giang
3.2. Nghiên cứu biện pháp tăng hiệu quả sản xuất lúa trên đất xám bạc màu ở Hiệp Hòa
3.2.1. Nghiên cứu tuyển chọn giống lúa thuần phù hợp trên đất xám bạc màu tại Hiệp Hòa - Bắc Giang
3.2.1.1. Kết quả nghiên cứu trong vụ xuân
3.2.1.2. Kết quả nghiên cứu trong vụ mùa
3.2.2. Nghiên cứu xác định mật độ cấy phù hợp cho giống lúa KD18 và BC15 trên đất xám bạc màu Bắc Giang
3.2.2.1. Kết quả nghiên cứu trong vụ xuân
3.2.2.2. Kết quả nghiên cứu trong vụ mùa
3.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân chuồng và phế phụ phẩm đến một số đặc tính hóa học của đất và năng suất của giống lúa KD18 trên đất xám bạc màu tại Hiệp Hòa – Bắc Giang
3.2.3.1. Ảnh hưởng của các nguồn hữu cơ đến năng suất của giống lúa Khang Dân 18
3.2.3.2. Bội thu năng suất và hiệu lực của các nguồn hữu cơ đến năng suất lúa
3.2.4. Xác định lượng phân hóa học thích hợp bón cho lúa KD18 và BC15 trên nền 10 tấn phân chuồng trên đất xám bạc màu tại Hiệp Hòa – Bắc Giang
3.2.4.1. Kết quả nghiên cứu với giống KD18.
3.2.4.2. Kết quả nghiên cứu với giống BC15
3.3. Xây dựng mô hình trình diễn áp dụng một số biện pháp kĩ thuật canh tác có hiệu quả cho lúa thuần trên đất xám bạc màu Bắc Giang
1. Kết luận
2. Đề nghị
2.1. Mở rộng diện tích áp dụng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật canh tác do luận án đề xuất vào sản xuất để đảm bảo sản xuất lúa hiệu quả, bền vững trên đất xám bạc màu tại tỉnh Bắc Giang và một số địa phương khác ở miền núi phía Bắc có điều kiện tương tự.
2.2. Xác định cây vụ đông phù hợp có hiệu quả về kinh tế và môi trường để sản xuất xen giữa 2 vụ lúa mùa và lúa xuân trên đất xám bạc màu trên chân đất vàn ở Hiệp Hòa – Bắc Giang.
2.3. Kết quả nghiên cứu mới dừng lại ở một chân đất cấy 2 vụ lúa và 1 vụ màu. Đề nghị nghiên cứu tiếp ở các chân đất khác (chân cao, chân trũng) hiện có ở Bắc Giang.