info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu mô bệnh học, hóa mô miễn dịch và một số yếu tố tiên lượng của sarcôm mô mềm thường gặp

Năm2021
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

Investigate histopathology, immunohistochemistry and some prognostic factors of common soft tissue sarcomas

Ngành:

Biomedical Science (Anatomical Pathology – Forensic Pathology)

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án "Nghiên cứu mô bệnh học, hóa mô miễn dịch và một số yếu tố tiên lượng của các loại sarcoma mô mềm phổ biến" là công trình đầu tiên tại Việt Nam áp dụng phương pháp mô bệnh học và hóa mô miễn dịch trong chẩn đoán sarcoma mô mềm (STS) ở cả vị trí ngoại vi và trung tâm, tuân thủ theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2013.

Nghiên cứu đã tiến hành phân loại các loại hình mô bệnh học trên 363 trường hợp STS, bao gồm 11 trong số 12 nhóm nguồn gốc. Trong đó, các khối u nguyên bào sợi và nguyên bào cơ sợi ác tính chiếm tỷ lệ cao nhất với 29,2%, tiếp theo là u mỡ ác tính (liposarcoma) với 26,7%, và sarcoma biệt hóa không xác định chiếm 14,9%. Đáng chú ý, không có trường hợp u quanh mạch ác tính nào được ghi nhận. Các khối u mô đệm ngoài đường tiêu hóa (extra-gastrointestinal stromal tumours) chiếm 2,2% (8/363) tổng số STS nói chung và 5,9% (8/136) trong nhóm STS vùng sau phúc mạc và trong ổ bụng.

Kỹ thuật hóa mô miễn dịch không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc phân loại mô bệnh học của STS mà một số dấu ấn sinh học còn có giá trị trong việc xác định bản chất phân tử của khối u, bao gồm MDM2, CDK4, INI1, MUC4, TFE3, WT1 và H3k27me3.

Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, phân độ mô học càng cao theo tiêu chuẩn của Liên đoàn Quốc gia các Trung tâm Chống Ung thư (Fédération Nationale des Centers de Lutte Contre le Cancer) và chỉ số Ki-67 càng cao thì tỷ lệ diện cắt phẫu thuật dương tính (R1-R2) càng tăng lên một cách có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Về phân tầng nguy cơ di căn của u sợi đơn độc ác tính (malignant solitary fibrous tumours) trên 50 trường hợp có ≥ 4 phân bào/10 HPF, nghiên cứu đã xác định ba mức độ nguy cơ: nguy cơ thấp chiếm 56%, nguy cơ trung bình chiếm 34%, và nguy cơ cao chiếm 10%.

Tài liệu liên quan