info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu kết quả đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng trong điều trị bệnh nhân hẹp tắc đường mật do ung thư

Năm2023
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ ĐẶT STENT ĐƯỜNG MẬT QUA NỘI SOI MẬT TỤY NGƯỢC DÒNG TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN HẸP TẮC ĐƯỜNG MẬT DO UNG THƯ

Ngành:

Nội tiêu hoá

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tập trung vào nghiên cứu kết quả đặt stent đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng (NSMTND) trong điều trị bệnh nhân hẹp tắc đường mật do ung thư (TMDUT). TMDUT là một tình trạng phổ biến, đòi hỏi quản lý hiệu quả, và đặt stent đường mật qua NSMTND được xem là phương pháp ưu tiên nhờ tính xâm lấn tối thiểu, tỷ lệ thành công kỹ thuật và hiệu quả dẫn lưu cao, cùng với tỷ lệ biến chứng thấp. Công trình này được thực hiện nhằm hai mục tiêu chính: nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân TMDUT và đánh giá kết quả, tai biến, biến chứng của phương pháp đặt stent.

Nghiên cứu được tiến hành trên 88 bệnh nhân TMDUT tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ năm 2014 đến 2018. Đặc điểm lâm sàng phổ biến là vàng da (100%), chán ăn (94,3%), sụt cân (89,8%), đau bụng (83,0%), với nồng độ bilirubin toàn phần trung bình rất cao (315,1 ± 133,4 µmol/l). Vị trí tắc mật thường gặp là đoạn thấp (55,7%) và vùng rốn gan (44,3%). Các nguyên nhân ung thư chính bao gồm ung thư tụy (31,8%), ung thư đường mật vùng rốn gan (21,6%) và ung thư đường mật đoạn thấp (15,9%). Tỷ lệ xác định ung thư bằng mô bệnh học/tế bào học đạt 71,6%.

Về kết quả kỹ thuật, tỷ lệ thành công của lần đặt stent đầu tiên là 90,9%. Tất cả các bệnh nhân đặt stent thành công (100%) đều đạt dẫn lưu hiệu quả về chức năng, với stent kim loại cho thời gian thông trung vị 266 ngày, vượt trội đáng kể so với stent nhựa (142 ngày, p < 0,001). Thời gian sống thêm toàn bộ trung vị của nhóm điều trị giảm nhẹ là 175 ngày (trung bình 224 ngày).

Các biến chứng sớm xảy ra ở 17,5% bệnh nhân, chủ yếu là viêm đường mật (10,0%) và viêm tụy cấp (5,0%). Biến chứng muộn chiếm 51,5% trường hợp, trong đó stent mất chức năng dẫn lưu là 42,6% và viêm đường mật khi stent còn chức năng là 19,1%.

Luận án kết luận rằng đặt stent đường mật qua NSMTND là phương pháp hiệu quả và an toàn trong điều trị TMDUT. Để cải thiện kết quả lâu dài và kiểm soát biến chứng, khuyến nghị ưu tiên sử dụng stent kim loại, thay stent định kỳ và nâng cao khả năng tiếp cận kỹ thuật.

Mục lục chi tiết:

  • Đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu (2 trang)
  • Tổng quan tài liệu (39 trang)
  • Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (25 trang)
  • Kết quả nghiên cứu (27 trang)
  • Bàn luận (38 trang)
  • Kết luận (2 trang)
  • Kiến nghị (1 trang)

Tài liệu liên quan