NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI GIẢI PHẪU KHỐI BÊN XƯƠNG SÀNG CỦA NGƯỜI VIỆT ỨNG DỤNG TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ VIÊM MŨI XOANG MẠN TÍNH
Tai Mũi Họng
Viêm mũi xoang (VMX) là một bệnh lý phổ biến trong chuyên khoa Tai Mũi Họng, thường có diễn biến kéo dài và tiềm ẩn nguy cơ biến chứng nghiêm trọng. Các nguyên nhân gây VMX mạn tính bao gồm các biến đổi cấu trúc giải phẫu như xoang hơi cuốn giữa, bóng sàng quá phát, mỏm móc quá phát, mỏm móc đảo chiều; các yếu tố môi trường như virus, dị ứng, khói bụi; và các bệnh toàn thân. Khi điều trị nội khoa không hiệu quả, phẫu thuật nội soi mũi xoang (NSMX) là chỉ định chính.
Tuy nhiên, để thực hiện NSMX một cách hiệu quả và an toàn, đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về giải phẫu các xoang và khối xương mặt, đặc biệt là khối bên xương sàng (KBXS). KBXS nằm ở vị trí trung tâm, liên quan mật thiết đến nhiều cấu trúc quan trọng như não, ổ mắt, động mạch sàng và thần kinh thị giác. Các bất thường về giải phẫu của KBXS đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của VMX mạn tính do ảnh hưởng đến quá trình dẫn lưu dịch xoang. Hơn nữa, sự biến đổi giải phẫu xoang sàng giữa các cá thể là rất lớn, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá giải phẫu mũi xoang chi tiết trước và trong phẫu thuật.
Luận án "Nghiên cứu hình thái giải phẫu khối bên xương sàng của người Việt ứng dụng trong phẫu thuật nội soi điều trị viêm mũi xoang mạn tính" được thực hiện với hai mục tiêu chính. Thứ nhất, mô tả cấu trúc giải phẫu của KBXS qua phẫu tích trên xác người Việt trưởng thành và đối chiếu với hình ảnh chụp cắt lớp vi tính cùng kết quả phẫu thuật trên bệnh nhân. Thứ hai, đánh giá ảnh hưởng của các biến đổi giải phẫu tại KBXS đến kết quả phẫu thuật nội soi điều trị VMX mạn tính.
Những đóng góp mới của luận án bao gồm việc lập bản đồ phân bố, tỷ lệ và kích thước các loại tế bào sàng trên người Việt Nam thông qua phẫu tích. Đồng thời, luận án so sánh các kết quả này giữa nhóm tử thi và nhóm bệnh nhân VMX mạn tính có polyp mũi để nhận diện sự khác biệt cấu trúc giải phẫu. Nghiên cứu cũng tiến hành so sánh kết quả phẫu thuật giữa hai nhóm bệnh nhân có và không có biến đổi giải phẫu ở KBXS.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ và kích thước các tế bào sàng trước và sau trên nhóm phẫu tích và phẫu thuật là tương tự nhau. Tuy nhiên, tỷ lệ kiểu hình mỏm móc bám bên (kiểu A) trên phẫu tích cao hơn nhóm phẫu thuật, trong khi tỷ lệ bóng khí mỏm móc, mỏm móc đảo chiều, cuốn giữa có bóng khí và cuốn giữa đảo chiều lại cao hơn đáng kể ở nhóm bệnh nhân phẫu thuật. Đáng chú ý, sau 1 năm theo dõi, các triệu chứng cơ năng và tình trạng mủ hốc mũi của nhóm không có biến đổi giải phẫu có xu hướng tăng lên so với nhóm có biến đổi giải phẫu, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết quả phẫu thuật nội soi sau 12 tháng cũng chỉ ra rằng nhóm bệnh nhân có biến đổi giải phẫu tại KBXS đạt kết quả tốt hơn (93,87%) so với nhóm không có biến đổi (77,04%), khẳng định vai trò quan trọng của việc nghiên cứu và hiểu rõ hình thái giải phẫu trong điều trị.
Luận án gồm 40 bảng, 11 biểu đồ, 47 hình, và 122 tài liệu tham khảo (Tiếng việt 32 tiếng Anh và tiếng Pháp 90).